Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Xuân Quỳnh và hành trình đi đến tận cùng của tình yêu trong thơ (Phần 2 và hết)
Kể từ Thuyền và biển, hay và hấp dẫn trong thế bao quát, đúng cho mọi thời, mọi người, bây giờ Xuân Quỳnh đã đến với chính tình yêu của riêng mình, một tình yêu là sự hòa hợp của hai trái tim; nhưng trong sự nhận - cho của cả hai bên, dường như Xuân Quỳnh là người đã chọn hạnh phúc nghiêng về phía cho, một cách vô tư và tin cậy.
Xuân Quỳnh và hành trình đi đến tận cùng của tình yêu trong thơ (Phần 1)
Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ hiếm hoi đã để lại nhiều bài thơ tình hay trong suốt đời thơ ngót ba mươi năm của mình. Ở thời kỳ đầu, qua hai tập Chơi biếc (1963) và Hoa dọc chiến hào (1968), bài thơ Thuyền và biển là bài in sâu trong tâm hồn người đọc nhiều thế hệ. Trong hình tượng thuyền và biển - “Chỉ có thuyền mới hiểu: Biển mênh mông nhường nào. Chỉ có biển mới hiểu: Thuyền đi đâu về đâu?” thấy được sự biểu đạt, sự tượng trưng cho tình yêu muôn thuở của con người, đến từ hai sinh thể khác giới để làm nên sự cộng hưởng, sự giao hòa, sự sinh sôi tạo nên cuộc sống.
Trần Dần: Từ “Nhất định thắng” đến 30 năm im lặng và khát vọng đổi mới văn chương
Trần Dần là một trong những gương mặt đặc biệt nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Từ bản trường ca “Nhất định thắng” gây chấn động năm 1956 đến ba thập kỷ sống trong im lặng, ông vẫn không ngừng tìm kiếm những lối viết mới, với khát vọng đổi mới nghệ thuật đến mức kiệt cùng. Di sản của Trần Dần hôm nay mở ra nhiều câu hỏi về sáng tạo, tự do và số phận nhà văn trong một thời đầy biến động.
Ninh Viết Giao – hành trình bền bỉ của một đời nghiên cứu xứ Nghệ
Năm 2006, nhân 50 năm sống và lập nghiệp ở xứ Nghệ (1956-2006), Ninh Viết Giao cho in cuốn sách Xứ Nghệ và tôi. Vài năm sau, nhà giáo - nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao đã vào tuổi 80 rồi. Trong Danh mục công trình xuất bản ông lại có thêm 10 đầu sách nữa, để từ 40 lên 50. Vậy là mỗi năm thêm một quyển. Vào thăm ông một ngày cuối năm 2011, tôi không ngờ sức lao động, sức viết của ông vẫn miệt mài và dẻo dai đến thế. Một lao động gần như là bất chấp bệnh tật, bất chấp tuổi tác, bất chấp mọi kham khổ, chật chội trong căn hộ gần như không thay đổi gì mấy trong hơn ba chục năm qua.
Phong cách Nguyễn Thi: Hiện thực dữ dội và chiều sâu nhân bản
Văn chương Nguyễn Thi là nghệ thuật thâu tóm hiện thực ở chiều sâu nhất. Từ gia đình, xóm nhỏ đến cả xã hội miền Nam trong chiến tranh, ông dựng nên những chân dung sống động, nơi hiện thực dữ dội hòa quyện với chất trữ tình, làm nên một phong cách giàu sức lay động và bền bỉ cùng văn mạch dân tộc.
Nguyễn Thi – nhà văn cầm súng và di sản viết còn dang dở
Nguyễn Thi là một trong những nhà văn cầm súng đặc biệt của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Hy sinh ở tuổi 40, ông để lại một di sản viết đáng kinh ngạc với những trang văn vừa dữ dội vừa thấm đẫm tình người, ghi lại chân thực sức mạnh tinh thần và khí phách của nhân dân trong chiến tranh.
Cuộc sống và hiện thực trên trang viết Nguyễn Thi
Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Thi, cuộc sống hiện lên như một nguyên khối dữ dội, gai góc và không che giấu xung đột. Từ Ở xã Trung Nghĩa đến Những đứa con trong gia đình, ông khắc họa con người miền Nam trong đấu tranh, nơi cái bình thường hóa thành anh hùng, và hạnh phúc chỉ đến khi con người được tự mình làm chủ số phận.
Một Nguyễn Minh Châu trầm lặng và quyết liệt trong văn chương Việt
Nhớ về Nguyễn Minh Châu tôi thường liên tưởng đến Nam Cao. Trong cảm nhận của tôi, cả hai có điểm gì đó gần nhau: Ở chất văn trong văn và chất nghệ sĩ nơi người. Ở một điểm khắc khoải lẫn về nhân sinh, về cõi đời.
Võ Huy Tâm – người mở đường cho văn học viết về giai cấp công nhân Việt Nam
Vinh dự Võ Huy Tâm sớm nhận được là một vinh dự “kép”:Tác giả cuốn truyện đầu tiên viết về giai cấp công nhân và là người thợ đầu tiên tham gia vào hàng ngũ viết văn.
Trần Hữu Thung và hành trình thơ gắn bó với nhân dân Khu Bốn
Nhu cầu sinh hoạt văn nghệ của nhân dân, và đòi hỏi xuất hiện những nhà thơ nhân dân – ấy là một đòi hỏi thường xuyên trong đời sống lao động và chiến đấu của quần chúng; nhưng sự thực có lúc mang tính chất cấp bách khác thường. Buổi đầu kháng chiến chống Pháp là lúc như thế. Khi cuộc sống đầy thiếu thốn gian khổ, nhưng lại bừng bừng khí thế đổi đời; khi sách vở giấy mực hiếm hoi, mà nhu cầu ca hát, phô diễn thì hầu như ai ai cũng có. Những đêm bập bùng lửa trại, tiền dân công, đơn bộ đội về làng, sinh hoạt tổ đội, mạn đàm, bình nghị, chia quả thực… Những câu hò nói đuổi nhau suốt lượt đoàn dân công tiếp vận, câu này gọi câu kia, như không dứt trong đêm trên đường ra hòa tuyến… Cộng đồng sáng tạo ấy là đặc điểm của thứ không khí ấy. Linh hoạt, gọn nhẹ, tìm đến ngay với cách nói quần chúng, ấy là ưu thế của thứ văn nghệ ấy. Không thể tách rời dấu ấn thời đại đó với đặc điểm và đóng góp nổi bật của một lớp nhà thơ như Trần Hữu Thung.
Hoàng Trung Thông: Nhà thơ xứ Nghệ và dấu ấn 10 năm lãnh đạo Viện Văn học (Phần 2 và hết)
Một thời - thời của Viện trưởng Hoàng Trung Thông quả rất đáng nhớ trong lịch sử 50 năm Viện Văn học.
Hoàng Trung Thông: Nhà thơ xứ Nghệ và dấu ấn 10 năm lãnh đạo Viện Văn học (Phần 1)
Tôi có kỷ niệm 10 năm cùng làm việc và ngót 50 năm biết Hoàng Trung Thông. Biết ông, vì ông là đồng hương xứ Nghệ, một nhà thơ nổi tiếng mà từ tuổi học trò, không chờ đến khi được phổ nhạc, tôi đã thuộc Bao giờ trở lại? cùng với Bài ca vỡ đất, với những vần thơ gần gũi, chắc nịch như chất người Nghệ Tĩnh quê tôi, quá quen với nắng hạn và gió Lào khô khát.
Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 4 và hết)
Sự phong phú về giọng điệu - cũng là một dấu hiệu cần cho tiểu thuyết. Vì đời sống vốn giàu âm điệu. Tất cả những Tiệp, Thất, Ái, Vượng; những chánh Hạp, già San, cha Khâm, cha Hoan, cha Độ; những Nhân, Ái, xơ Khuyên; những cụ Trùm Nhâm, bà Hai Khoản; những Ngật, Búp, Mẩy, mụ Hào, lái Táp; và cả những bọ Sức, Ba Bơ... cho ta cảm nhận sự đa thanh của Bão biển. Thế giới nhân vật ấy có chính có phụ, được tô đậm hoặc thoáng qua, đi đến cùng cuốn truyện hoặc bỏ cuộc giữa chừng.
Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 3)
Bão biển, như tên gọi của nó, gợi một ấn tượng mạnh mẽ và hùng vĩ. Và người đọc, từ tên sách vào truyện, ngay từ trang đầu, chương đầu đã không bị hẫng, hoặc nhầm. Cuộc sống một vùng nông thôn công giáo, có đất và biển, có địch và ta, có tiến bộ và lạc hậu, có mới và cũ... rõ là bề bộn, không dễ phân biệt; và trận địa ở đây không phân ranh giới. Có hai kẻ địch: Một là bọn phản cách mạng đội lốt cha cố hoặc con chiên mê muội, và một là những người lạc hậu. Nhưng giữa hai loại người đó, nói như tác giả, đâu phải lúc nào cũng dễ phân biệt: “Những kẻ phản động, người xấu thường hay trà trộn với những người lạc hậu. Những người lạc hậu khi tưởng rằng mình đúng lẽ, thường có những hành động liều lĩnh, bậy bạ, đúng như ý muốn của bọn phản động”.
Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 2)
Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu Chu Văn, trong nhịp đi đều đặn, không chậm rãi, cũng không nóng vội của mình, cứ vài ba năm lại cho ra một tập truyện (hoặc tập ký), với cự ly đều đặn để từ con số cộng của số lượng mà làm nên bề dày, có thể vẫn chưa là chất lượng, của một người viết văn xuôi.
Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 1)
Nói Chu Văn là nói một lớp người viết đến với nghề từ trách nhiệm công dân. Cũng có thể nói đó là lớp nhà văn sản phẩm của Cách mạng tháng Tám. Trong quan niệm buổi đầu ở họ, văn nghệ trước hết phải là một vũ khí tuyên truyền. Văn nghệ phải đến với quần chúng, số đông vừa từ bóng tối của cuộc đời cũ bước ra đang khao khát ánh sáng của văn hóa để biến cải cuộc đời mình. Nhiệm vụ cách mạng phát triển, quần chúng trưởng thành; anh cán bộ chính trị học viết, xem văn nghệ như một công cụ tuyên truyền trở thành nhà văn; và sự song hành phát triển đó đã đưa Chu Văn vào đội ngũ người viết chủ lực của nền văn nghệ mới sau 1945. Hơn thế, còn đưa Chu Văn lên tầm một cây bút tiểu thuyết có thành tựu, có nghề, giành được vị trí cao trong nền văn xuôi hiện đại.
Võ Quảng - một sự nghiệp viết cho thiếu nhi (Phần 2 và hết)
Là tác giả của một bộ truyện nổi tiếng, Võ Quảng còn là nhà thơ, với nhiều bài thơ hay cho lứa tuổi nhỏ. Thơ Võ Quảng là thế giới của con trẻ và thế giới của hoa cỏ, loài vật, qua cách nhìn con trẻ.
Võ Quảng - một sự nghiệp viết cho thiếu nhi (Phần 1)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nhà Nho trung lưu ở xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, bên dòng sông Thủ Bồn, Quảng Nam - Đà Nẵng; 16 tuổi theo học trường Quốc học Huế; 17 tuổi tham gia phong trào Thanh niên Dân chủ, rồi Thanh niên phản đế; 21 tuổi bị giam ở nhà lao Thừa Phủ rồi bị quản thúc ở quê cho đến 1945... Võ Quảng có một tuổi thơ cùng kham khổ với nhân dân và một tuổi thanh niên sôi nổi tham gia cách mạng.
Nguyễn Xuân Sanh và hành trình vượt qua giới hạn của Thơ mới Việt Nam (Phần 2 và hết)
Phần này tiếp tục hành trình văn học của Nguyễn Xuân Sanh sau Cách mạng tháng Tám, khi ông cùng thế hệ “Thơ mới” chuyển mình thành chiến sĩ – thi sĩ cách mạng, góp phần kiến tạo diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam hiện đại.