
Chính vào lúc ấy Xuân Quỳnh đã đến với Vũ; và với cuộc tình thứ ba này Vũ thật sự được bù đắp, hơn thế, còn được tái sinh, được vẹn nguyên trở lại lòng yêu sống. Nếu hai cuộc tình trước đã đẩy anh ra xa cuộc sống thì cuộc tình này đã lấy lại niềm yêu sống nơi anh. Những gian nan anh được chia sẻ; những vết thương lòng anh được bù đắp; kể từ đây, khi có Quỳnh, khi ở bên Quỳnh thơ tình của Vũ sẽ trở lại chân dạng đích thực của nó:
Dành cho em mong từng buổi em về.
Cuộc đời ngỡ ngắn đi vì ngóng đợi
Vải đã hết tu hú còn gọi mãi
Dành cho em nỗi nhớ của mùa hè.
Và:
Bao nhiêu ngày tháng bao đường sá
Biết mấy vui buồn để có em
Em gầy đi đấy đôi vai nhỏ
Lẫn với bờ cây, lẫn với thuyền.
Để rồi dần dần đến với Vũ một tình yêu, có mới và khác, trong gặp gỡ và hòa trộn với ân tình. Ái tình trong chuyển đổi để đạt tới ân tình, hẳn sẽ làm mới đi hạnh phúc trong cả hai chiều rộng và sâu, bồng bột và lắng chìm của nó:
Khi tàu đông anh lỡ chuyến đi dài
Chỉ một người ở lại với anh thôi
Lúc anh vắng người ấy thường thức đợi
Khi anh khổ chỉ riêng người ấy tới
Anh yên lòng bên lửa ấm yêu thương
Người ấy chỉ vui khi anh hết lo buồn
Anh lạc bước, em đưa anh trở lại
Khi cằn cỗi thấy tháng ngày mệt mỏi
Em là sớm mai, là tuổi trẻ của anh
Khi những điều giả dối vây quanh
Bàn tay ấy chở che và gìn giữ
Biết ơn em từ miền gió cát
Về với anh bông cúc nhỏ hoa vàng
Quỳnh đã từng viết Gió Lào, cát trắng. Là người rất yêu hoa cúc vàng. Chúng ta biết khi viết những câu thơ ấy, chắc Vũ nặng lòng yêu lắm!
Có thể nói với Vũ, Quỳnh đã đóng rất nhiều vai. Là người yêu, yêu Vũ và yêu sự nghiệp của Vũ, chăm nom hết mình cho sự nghiệp ấy. Quỳnh còn rất xuất sắc trong vai người vợ rất giàu phẩm chất hy sinh; trong vai người mẹ của cả ba con; trong vai người con dâu rất thảo; trong vai người chị của khá đông em; và đã là cuối cùng chưa, trong vai người bạn, người đồng nghiệp biết tự mình phải là điểm tựa cho chồng hướng tới các chân trời xa của sự nghiệp. Có thể nói, Vũ biết rất rõ sự nghiệp của mình có đóng góp rất lớn của Xuân Quỳnh.
Thế nhưng sau những năm 1970 nhịp nhàng trong đối thoại tình yêu Quỳnh - Vũ, lại đã đến những năm 1980, Vũ dồn hết tâm sức cho kịch - những hơn 50 vở kịch trong ngót 8 năm - anh còn đâu thì giờ và tâm trí làm thơ, kể cả thơ tình, là cái anh viết khá chuyên cần trong hơn mười năm trước đây. Trong khi đó, cùng với căn bệnh đau tim chớm phát, thơ Quỳnh cũng đã chuyển sang một âm điệu khác, với nhiều khắc khoải và xót xa:
Tôi đã đi đến tận cùng xứ sở
Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu
Giữa những năm 1980 Quỳnh vào - ra bệnh viện, lại là những năm sự nghiệp kịch của Vũ lên các đỉnh cao, có năm anh giành một lúc cả sáu Huy chương Vàng. Anh bận rộn suốt ngày đêm với các vở, các đoàn, các đêm diễn, các cuộc đi... Bài thơ viết cho Quỳnh trên máy bay rất dễ cho ta hình dung tình cảnh đó:
Từ nơi xa anh vội về với em
Chiếc máy bay bay dọc sông Hồng
Hà Nội sau những đám mây
Anh dõi tìm: đâu, giữa chấm xanh nào
Có căn phòng bệnh viện em ở?
Ai ở các độ cao máy bay mà không khắc khoải một chấm xanh nơi ngôi nhà - tổ ấm của mình? Thay vì cái ngõ 96 phố Huế quen thuộc tấp nập bán mua bây giờ là Bệnh viện Việt Xô (tên cũ), nơi Xuân Quỳnh thường vào - ra... Người từng định nghĩa tình yêu dứt khoát không phải là Vàng, là Mặt trời mà là Trái tim như trong bài Tự hát, bây giờ lại bị đau chính ở tim, lại phải mang một trái tim đau. Tôi được biết Quỳnh đã rất cảm động khi nhận được bài thơ đó của Vũ:
Trái tim hãy vì anh mà khỏe mạnh
Trái tim của mùa hè, tổ ấm chở che anh
Thơ tình Vũ - Quỳnh, theo tôi, đó là hiện tượng đặc sắc - nếu không nói là đặc sắc nhất, trong thơ Việt nửa sau thế kỷ XX. Bởi ở phần thơ này của hai người, ta có thể tìm một đối thoại của tình yêu, với nhiều điều mới mẻ, sau hai dạng kết tinh ở đỉnh cao là Xuân Diệu và Nguyễn Bính.
Vũ mất ở tuổi chẵn 40. Nếu gọi là trẻ thì còn nhiều người trẻ hơn Vũ mà sự nghiệp cũng đã đạt đỉnh cao: Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Hàn Mặc Tử, Nam Cao... Bốn mươi - chưa là già nhưng cũng không còn là trẻ. Cứ cho là trẻ ở tuổi 40 thì cũng không phải là điều đáng nói nhiều. Cái đáng nói là ở sự ngừng lại quá đột ngột ở tuổi 40 một sự nghiệp đang ở đỉnh cao trên cả hai loại hình thơ và kịch mà không có bất cứ báo hiệu nào của một sự ngừng nghỉ chứ không nói đến một cuộc ra đi vĩnh viễn. Và cũng ngừng với Vũ là hai người thân yêu, như dồn thêm trọng lượng cho một nỗi đau vốn đã lớn, bây giờ là lớn gấp đôi, gấp ba.
Một tuổi mới 40 thế mà cũng gần như hội đủ mọi trải nghiệm của đời người, trong đó phần đời riêng, tưởng là rất riêng của Vũ cũng hóa ra cũng là một mảnh, một phần hữu cơ của cuộc đời chung. Sự thức nhận này đến hơi muộn với chúng ta; phải vào thập niên cuối thế kỷ XX sau khi Vũ mất, chúng ta mới nhận rõ điều này. Nhưng chính là trong nhận thức ấy mà ta thấy Vũ càng gần gũi hơn, và lớn hơn những gì ta nghĩ về Vũ trước đây.
Đầu những năm 1960, thế hệ chúng tôi rất “mê” hai câu thơ của Bùi Minh Quốc:
Cái tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì xa xôi gấp mấy cũng lên đường
Đầu 1970, thêm 10 năm cho sự trưởng thành của đời người, quả khó lặp lại âm hưởng ấy, giọng điệu ấy. Nhưng như thế nào là một giọng Thơ mới?
Ấy là những năm Vũ vừa rời quân ngũ sau những va vấp không bình thưởng; sớm lập gia đình, đến với một cuộc tình quá chóng tan vỡ; không biên chế, không việc làm, làm đủ thứ nghề để kiếm sống: vẽ pano, làm áp phích, in bưu thiếp, bồi giấy làm bìa, chấm công cho đội làm đường, trưng bày triển lãm, hợp đồng biên tập cho xuất bản...
Những năm cảm nhận đến tận cùng vị đắng chát, cùng là sự vô vị và vô dụng của đời mình. Thế nhưng ở đây, cũng như bất cứ mọi lĩnh vực nào của sự sống vật chất và tinh thần, phép biện chứng vẫn hiện diện như một quyền năng tối thượng. tất cả sự sống đắng chát và tưởng như vô dụng ấy lại trở thành hành trang đường dài cho Vũ, lại làm nên cái vốn lớn cho anh đến với một sự nghiệp dồn dập bao là tác phẩm, cả trên sân khấu và trên trang viết, và rất nhanh vươn đến sự thăng hoa; một sự nghiệp rất xứng đáng nhận một Huân chương Lao động hạng nhất do chính nhân dân trao tặng.
Hướng nội rất sâu trong thơ và hướng ngoại mạnh mẽ đến quyết liệt trong kịch - gắn nối được hai dạng biểu hiện khác nhau ấy trong sự nghiệp sáng tạo của mình, Vũ trở thành hiện tượng, thành sự kiện trong đời sống văn chương nghệ thuật những năm 1980. Và, ở cả hai phương diện, hướng nội và hướng ngoại, gần như Vũ đã tự bộc lộ, tự phát hiện mình đến tận cùng - để trở thành một sự chói sáng, rồi đột ngột vụt tắt... Rồi, để trong bàng hoàng của sự vụt tắt ta chợt cảm thấy có cái gì như là dự cảm - trong kịch, với mở đầu Sống mãi tuổi 17, và kết thúc: Điều không thể mất và Chim sâm cầm không chết... Và cả trong thơ, với Bài hát ấy vẫn còn là dang dở...
Linh cảm cho giờ vĩnh biệt, Vũ dường như cũng đã tiên liệu sớm cho một tổng kết của đời mình:
Anh là kẻ suốt đời tất bật
Suốt đời vội đi, suốt đời nóng ruột
Em tới nơi mùa gặt đã xong rồi
(Chiều chuyển gió)
Vũ đã đến sớm với những mùa gặt bội thu - không phải chờ sau khi anh mất mới chứng nghiệm điều đó. Còn cuộc đời thì hết vụ này lại sang vụ khác, trong sự sống vĩnh hằng của nó.
Ba mươi năm về trước, vào đầu thu 1988, đám tang Vũ - Quỳnh là thuộc trong số những đám tang đông chật người đưa tiễn. Điều đáng chú ý không phải chỉ ở số đông - có lẽ là đông hơn cả, mà còn là ở các thành phần đưa tiễn. Đó là cả một xã hội - những người biết anh, đọc anh, xem anh, nghe chuyện về anh - từ các bà, các chị tiểu thương chợ Hôm, đối diện số nhà 96 phố Huế của anh đến các tỉnh rất xa, những đoàn diễn, những người xem diễn... Một đám tang như thế, hội xa, nhập đông đủ bao lớp người kể cũng là rất hiếm./.