Nguyễn Đức Hiền và dấu ấn bền bỉ của văn học lịch sử viết cho thiếu nhi (Phần 2 và hết)

Nguyễn Đức Hiền chọn cách đi thẳng vào bản chất lịch sử, tránh giật gân, để giải tỏa những nỗi oan khuất và bền bỉ dựng lại các nhân vật lớn bằng văn chương điềm tĩnh, giản dị nhưng giàu sức thuyết phục.
Án oan lệ chi dẫn đến bi kịch của Nguyễn Trãi đã trở thành nguồn cảm hứng lớn với Nguyễn Đức Hiền
Án oan lệ chi dẫn đến bi kịch của Nguyễn Trãi đã trở thành nguồn cảm hứng lớn với Nguyễn Đức Hiền. Ảnh: HTV

Một đặc sắc khác - Lệ Chi Viên là một bi kịch có quá nhiều bí ẩn, từng dệt nên bao giai thoại, đặt ra bao câu hỏi, rất kích thích tư duy tiểu thuyết; khi nhân vật chính là vị vua trẻ Lê Thái Tông ở tuổi hai mươi, cùng người đẹp Nguyễn Thị Lộ ở tuổi ngoài bốn mươi; và nhân vật ẩn phía sau là Nguyễn Trãi. Nhưng với Sao Khuê lấp lánh tác giả Nguyễn Đức Hiền đã không bị cuốn vào những vùng xoáy nhạy cảm, làm phân tán cái mối quan tâm hàng đầu của tác giả: Là sự khẳng định chỉ một giả thuyết gây nên nỗi oan cho Nguyễn Trãi - đó là mưu đồ của Nguyễn Thị Anh cùng đám quần thần bất lương. Và như thế, nỗi oan khốc mới thật sự nâng lên một tầm cao. Và cái kết thúc gắn với câu thơ của Lê Thánh Tông được chọn làm tên sách, mới thật sự là một giải tỏa... Đoạn kết sách Sao Khuê... do vậy cũng đem lại cho tôi một hứng thú giống như kết thúc Bà Triệu:

“Bấy giờ vào tiết cuối xuân, đầu hạ. Quang âm đang chuyển dần về sáng. Trời không trăng nhưng không gian trong suốt. Đứng trên lầu lộ thiên, nhà vua có thể nhìn bao quát phong cảnh khu vườn Lệ Chi. Người lại bắt đầu xúc động. “Chà! Lệ Chi Viên! Một mình khanh cũng đủ xứng danh là một giang sơn cẩm tú! Có phải vì thế mà xưa kia tiên đế ta đã từng chọn khanh trong một tối dừng chân... và cũng vì thế mà tiên triều đã gây ra bao nhiêu oán cừu, thảm khốc!”.

Nhà vua hít một hơi thở thật dài. Gió từ mạn sông Thiên Đức thổi về mang theo mùi thơm mát lịm của những quả lệ chi vừa nở cùi vừa chín rộ. Nhà vua sửa lại khăn áo và ngửa mặt nhìn lên bầu trời cao lồng lộng. Xa xa về phương nam, lấm tấm giữa những vì sao đêm ngôi sao Khuê đang lấp lánh...

Bất giác hoàng thượng cao hứng ngâm vang:

Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo!

Lời thơ của bậc minh quân đã được đất, trời, núi, sông chứng giám. Lời thơ bất hủ đó đã được truyền tụng khắp nước. Và nó sẽ còn truyền tụng mãi, cũng như ngôi sao Khuê còn lấp lánh mãi trên bầu trời phương Nam”.

Văn Nguyễn Đức Hiền trong Sao Khuê... giản dị, sáng sủa, tao nhã. Ông sử dụng ngôn từ rất cân nhắc, chừng mực - để không thô nhưng cũng không sa vào hoa mỹ. Một nội dung như thế, gắn với một hình thức như thế, Sao Khuê lấp lánh có được một giá trị cổ điển xứng đáng để được chọn vào Tủ sách Vàng cho thiếu nhi. Cũng là hiện tượng hiếm hoi khi một đời viết - chỉ với hai ấn phẩm, Nguyễn Đức Hiền sớm trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, với hai người giới thiệu là Xuân Diệu và Nguyễn Tuân; và là một tên tuổi đáng được ghi nhớ trong làng văn viết cho thiếu nhi ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua.

Ngừng việc theo đuổi đề tài lịch sử cho thiếu nhi, Nguyễn Đức Hiền tiếp tục một dòng viết mới, đó là Nguyễn Quỳnh, Trạng Quỳnh và truyện Trạng Quỳnh dưới hình thức khảo luận và biên soạn. Công việc được bắt đầu từ năm 1987, với sách Trạng Quỳnh; rồi 1996, với sách truyện Trạng Quỳnh. Xen vào giữa, năm 1992, là một hồi ký - tiểu luận có tên: Quê hương - nước mắt - tiếng cười. Tôi gọi là tiểu luận (để thay cho khảo luận hoặc hồi kí) về quê hương của ông cũng là quê hương của Nguyễn Quỳnh (hoặc Cống Quỳnh), là ông tổ tám đời của tác giả. Một khảo luận được viết dưới hình thức hồi kí thật tỉ mỉ, công phu, rút từ kho kí ức của nhân dân trong đó có bà nội của tác giả; và từ khối thư tịch phong phú trong di sản Hán Nôm mà cụ thân sinh ra ông để lại. Từ ba tác phẩm được ấn hành và tái bản nhiều lần trong hơn mười năm, tác giả đã cho hội vào một bộ sách dày dặn có tên: Nguyễn Quỳnh, Trạng Quỳnh, truyện Trạng Quỳnh (khảo luận, biên soạn) mà bản in tôi có trong tay là bản được Nhà xuất bản Giáo dục tái bản lần thứ hai năm 2003, 420 trang khổ to 16x24. Như vậy có thể thấy việc theo đuổi đề tài Trạng Quỳnh (gồm Nguyễn Quỳnh - Cống Quỳnh, Trạng Quỳnh và truyện Trạng Quỳnh) ở Nguyễn Đức Hiền là ngót hai mươi năm mới đến được bộ sách tổng hợp này, trước khi ông qua đời năm 2004.

Trở lại một vài điều chung quanh câu chuyện Nguyễn Quỳnh và Trạng Quỳnh. Truyện Trạng Quỳnh vốn được lưu truyền trong nhân dân từ rất lâu đời. Đến đầu thế kỉ XX, truyện được in bằng nhiều thứ chữ: Nôm, Quốc ngữ, Pháp (bản Cordier 1926). Theo đó mà có sự phỏng đoán truyện Trạng Quỳnh lưu truyền trong dân gian có xuất xứ từ một nhân vật Nguyễn Quỳnh có thật trong lịch sử, quê ở Thanh Hóa, còn được gọi là Cống Quỳnh. Việc phát hiện gia phả Nguyễn Quỳnh năm 1985, qua đó được biết Nguyễn Quỳnh sinh năm Đinh Tỵ (1677) mất năm Mậu Thìn (1768), sinh quán làng Bột Thượng, nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đỗ đầu kì thi Hương thời Lê Trịnh, khẳng định: Nhân vật Nguyễn Quỳnh có, trong lịch sử chính là nguyên mẫu (prototype) của nhân vật Trạng Quỳnh của truyện dân gian.

Trong sách Trạng Quỳnh của Nhà xuất bản Văn học - 1987 và của Nhà xuất bản Khoa học xã hội - 1992, Giáo sư khảo cổ học Hà Văn Tấn đã cho công bố cuốn gia phả Nguyễn Quỳnh, và đưa ra nhận định về mối quan hệ như trên. Cùng lúc Nguyễn Đức Hiền công bố 40 Truyện Trạng Quỳnh do ông sưu tầm, biên soạn; và ngay sau đó được dịch in ra tiếng Pháp trên Le Courrier du Vietnam, và tiếng Anh trên VietnamNews. Sau đó là tiếng Đức và tiếng Nga. Nếu nói đến một kỉ lục in thì có thể nói truyện Trạng Quỳnh - với 18 lần tái bản.

Từ một lịch sử như trên, đến với công trình tổng hợp Nguyễn Quỳnh, Trạng Quỳnh, truyện Trạng Quỳnh - năm 2001 (được tái bản nhiều lần trong các năm tiếp theo) tác giả Nguyễn Đức Hiền đã tiến hành một công việc đòi hỏi rất nhiều công sức và tâm sức, để đến với nhiều giá trị. Đó là giá trị khảo chứng trên nhiều nguồn tư liệu - vừa trong thư tịch, vừa trong tâm thức nhân dân để khẳng định nhân vật Nguyễn Quỳnh trong lịch sử. Đồng thời, là giá trị sưu tầm và biên soạn trên 40 văn bản truyện, để đạt một chất lượng cao cho công trình Truyện Trạng Quỳnh như ý kiến của PGS. Vũ Ngọc Khánh. Từ hai phía mà hướng tới những biện giải, lý luận có sức thuyết phục cho sự hoàn thiện một quy trình đi từ Nguyễn Quỳnh - Cống Quỳnh, qua Trạng Quỳnh, đến truyện Trạng Quỳnh; nhờ đó mà tái dựng một nhân vật lịch sử gắn nối với một chân dung văn học, làm nên sự độc đáo của một hiện tượng văn hóa đặc sắc trong đời sống xã hội, trong sinh hoạt tinh thần và tâm thức Việt từ đầu thế kỉ XVIII cho đến nay. Từ kho tàng Truyện Trạng Quỳnh, sẽ có sự tiếp nối và giao thoa với kho tàng thơ Hồ Xuân Hương mà làm nên một dòng chảy đặc sắc trong lịch sử và văn hóa Việt, văn chương Việt...

Có một liên hệ không mỏng manh giữa thế giới nhân vật trong Bà Triệu, Sao Khuê lấp lánh, và Trạng Quỳnh - cả ba vừa sống sự sống của lịch sử, vừa sống trong tâm thức nhân dân. Cả ba, trong toàn bộ, hoặc trong từng phần, đều có gắn với các cảnh quan xứ Thanh - quê hương tác giả. Xứ Thanh, nơi Bà Triệu sinh ra, lớn lên, đánh giặc. Nơi có Lam Kinh, quê hương khởi nghĩa Lam Sơn, và nơi đặt lăng mộ của nhiều bậc tiên đế thời Lê, cho nhân dân về bái yết. Nơi sinh ra Cống Quỳnh và là quê hương của những truyện Trạng làm nên sự sống độc đáo và đỉnh cao giá trị phê phán của văn Nôm Việt.

Tôi được biết Nguyễn Đức Hiền khi ông công tác ở Nhà xuất bản Văn học; rồi quen và thân khi ông làm bộ sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Lúc này ông ở 116 phố Lạc Trung. Đến thăm ông, thấy khi nào ông cũng bận rộn với hồ sơ, sách báo, tài liệu. Nhanh nhẹn, cẩn trọng, chuẩn xác trong xử lý các công việc; và chu đáo, tận tình với bạn bè. Do được ông tin cậy nên tôi có được một bài trong phần Nhân chứng của bộ sách đồ sộ gồm ba phần, về vị học giả mà tôi rất quý trọng và là đồng hương của tôi. Theo chỗ tôi biết, chính là qua truyện Trạng Quỳnh mà Hoàng Xuân Hãn biết ông. Rồi qua mấy lần tiếp xúc, nhân dịp ông ghé thăm Paris, Hoàng tiên sinh đã tin cậy và gửi gắm ông, cùng nhà văn hóa Hữu Ngọc làm nên bộ tuyển đồ sộ rất có giá trị cho nhiều lĩnh vực khoa học - gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta.

Bộ sách 4000 trang cỡ lớn 16x24 cm, được hai soạn giả Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền tiến hành trong 6 năm - từ 1992 đến 1998. Khi sách đến tay bạn đọc thì học giả Hoàng Xuân Hãn đã qua đời 2 năm.

Đến với Nguyễn Đức Hiền là đến với cả hai khu vực sáng tác và trước tác. Bốn mươi năm trong nghề viết - bên cạnh rất nhiều công việc khác trong một cuộc đời chịu nhiều thăng trầm, mới vượt ngưỡng tuổi 70 - ông chỉ để lại ba tác phẩm (không kể công trình biên soạn La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn); nhưng cả ba đều tạo được dấu ấn riêng; và chắc chắn sẽ có sự sống lâu bền, trong lòng bạn đọc./.

GS. Phong Lê