90 Chân dung văn hóa
Võ Huy Tâm – người mở đường cho văn học viết về giai cấp công nhân Việt Nam
Vinh dự Võ Huy Tâm sớm nhận được là một vinh dự “kép”:Tác giả cuốn truyện đầu tiên viết về giai cấp công nhân và là người thợ đầu tiên tham gia vào hàng ngũ viết văn.
Trần Hữu Thung và hành trình thơ gắn bó với nhân dân Khu Bốn
Nhu cầu sinh hoạt văn nghệ của nhân dân, và đòi hỏi xuất hiện những nhà thơ nhân dân – ấy là một đòi hỏi thường xuyên trong đời sống lao động và chiến đấu của quần chúng; nhưng sự thực có lúc mang tính chất cấp bách khác thường. Buổi đầu kháng chiến chống Pháp là lúc như thế. Khi cuộc sống đầy thiếu thốn gian khổ, nhưng lại bừng bừng khí thế đổi đời; khi sách vở giấy mực hiếm hoi, mà nhu cầu ca hát, phô diễn thì hầu như ai ai cũng có. Những đêm bập bùng lửa trại, tiền dân công, đơn bộ đội về làng, sinh hoạt tổ đội, mạn đàm, bình nghị, chia quả thực… Những câu hò nói đuổi nhau suốt lượt đoàn dân công tiếp vận, câu này gọi câu kia, như không dứt trong đêm trên đường ra hòa tuyến… Cộng đồng sáng tạo ấy là đặc điểm của thứ không khí ấy. Linh hoạt, gọn nhẹ, tìm đến ngay với cách nói quần chúng, ấy là ưu thế của thứ văn nghệ ấy. Không thể tách rời dấu ấn thời đại đó với đặc điểm và đóng góp nổi bật của một lớp nhà thơ như Trần Hữu Thung.
Hoàng Trung Thông: Nhà thơ xứ Nghệ và dấu ấn 10 năm lãnh đạo Viện Văn học (Phần 2 và hết)
Một thời - thời của Viện trưởng Hoàng Trung Thông quả rất đáng nhớ trong lịch sử 50 năm Viện Văn học.
Hoàng Trung Thông: Nhà thơ xứ Nghệ và dấu ấn 10 năm lãnh đạo Viện Văn học (Phần 1)
Tôi có kỷ niệm 10 năm cùng làm việc và ngót 50 năm biết Hoàng Trung Thông. Biết ông, vì ông là đồng hương xứ Nghệ, một nhà thơ nổi tiếng mà từ tuổi học trò, không chờ đến khi được phổ nhạc, tôi đã thuộc Bao giờ trở lại? cùng với Bài ca vỡ đất, với những vần thơ gần gũi, chắc nịch như chất người Nghệ Tĩnh quê tôi, quá quen với nắng hạn và gió Lào khô khát.
Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 4 và hết)
Sự phong phú về giọng điệu - cũng là một dấu hiệu cần cho tiểu thuyết. Vì đời sống vốn giàu âm điệu. Tất cả những Tiệp, Thất, Ái, Vượng; những chánh Hạp, già San, cha Khâm, cha Hoan, cha Độ; những Nhân, Ái, xơ Khuyên; những cụ Trùm Nhâm, bà Hai Khoản; những Ngật, Búp, Mẩy, mụ Hào, lái Táp; và cả những bọ Sức, Ba Bơ... cho ta cảm nhận sự đa thanh của Bão biển. Thế giới nhân vật ấy có chính có phụ, được tô đậm hoặc thoáng qua, đi đến cùng cuốn truyện hoặc bỏ cuộc giữa chừng.
Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 3)
Bão biển, như tên gọi của nó, gợi một ấn tượng mạnh mẽ và hùng vĩ. Và người đọc, từ tên sách vào truyện, ngay từ trang đầu, chương đầu đã không bị hẫng, hoặc nhầm. Cuộc sống một vùng nông thôn công giáo, có đất và biển, có địch và ta, có tiến bộ và lạc hậu, có mới và cũ... rõ là bề bộn, không dễ phân biệt; và trận địa ở đây không phân ranh giới. Có hai kẻ địch: Một là bọn phản cách mạng đội lốt cha cố hoặc con chiên mê muội, và một là những người lạc hậu. Nhưng giữa hai loại người đó, nói như tác giả, đâu phải lúc nào cũng dễ phân biệt: “Những kẻ phản động, người xấu thường hay trà trộn với những người lạc hậu. Những người lạc hậu khi tưởng rằng mình đúng lẽ, thường có những hành động liều lĩnh, bậy bạ, đúng như ý muốn của bọn phản động”.
Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 2)
Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu Chu Văn, trong nhịp đi đều đặn, không chậm rãi, cũng không nóng vội của mình, cứ vài ba năm lại cho ra một tập truyện (hoặc tập ký), với cự ly đều đặn để từ con số cộng của số lượng mà làm nên bề dày, có thể vẫn chưa là chất lượng, của một người viết văn xuôi.
Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 1)
Nói Chu Văn là nói một lớp người viết đến với nghề từ trách nhiệm công dân. Cũng có thể nói đó là lớp nhà văn sản phẩm của Cách mạng tháng Tám. Trong quan niệm buổi đầu ở họ, văn nghệ trước hết phải là một vũ khí tuyên truyền. Văn nghệ phải đến với quần chúng, số đông vừa từ bóng tối của cuộc đời cũ bước ra đang khao khát ánh sáng của văn hóa để biến cải cuộc đời mình. Nhiệm vụ cách mạng phát triển, quần chúng trưởng thành; anh cán bộ chính trị học viết, xem văn nghệ như một công cụ tuyên truyền trở thành nhà văn; và sự song hành phát triển đó đã đưa Chu Văn vào đội ngũ người viết chủ lực của nền văn nghệ mới sau 1945. Hơn thế, còn đưa Chu Văn lên tầm một cây bút tiểu thuyết có thành tựu, có nghề, giành được vị trí cao trong nền văn xuôi hiện đại.
Võ Quảng - một sự nghiệp viết cho thiếu nhi (Phần 2 và hết)
Là tác giả của một bộ truyện nổi tiếng, Võ Quảng còn là nhà thơ, với nhiều bài thơ hay cho lứa tuổi nhỏ. Thơ Võ Quảng là thế giới của con trẻ và thế giới của hoa cỏ, loài vật, qua cách nhìn con trẻ.
Võ Quảng - một sự nghiệp viết cho thiếu nhi (Phần 1)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nhà Nho trung lưu ở xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, bên dòng sông Thủ Bồn, Quảng Nam - Đà Nẵng; 16 tuổi theo học trường Quốc học Huế; 17 tuổi tham gia phong trào Thanh niên Dân chủ, rồi Thanh niên phản đế; 21 tuổi bị giam ở nhà lao Thừa Phủ rồi bị quản thúc ở quê cho đến 1945... Võ Quảng có một tuổi thơ cùng kham khổ với nhân dân và một tuổi thanh niên sôi nổi tham gia cách mạng.
Nguyễn Xuân Sanh và hành trình vượt qua giới hạn của Thơ mới Việt Nam (Phần 2 và hết)
Phần này tiếp tục hành trình văn học của Nguyễn Xuân Sanh sau Cách mạng tháng Tám, khi ông cùng thế hệ “Thơ mới” chuyển mình thành chiến sĩ – thi sĩ cách mạng, góp phần kiến tạo diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam hiện đại.
Nguyễn Xuân Sanh và hành trình vượt qua giới hạn của Thơ mới Việt Nam (Phần 1)
Bài viết của GS. Phong Lê khắc họa hành trình sáng tạo độc đáo của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh – người bước ra từ phong trào Thơ mới để mở lối riêng cùng Xuân Thu nhã tập, vượt qua giới hạn lãng mạn và khẳng định dấu ấn trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
Hồi ức Tô Hoài: Dòng ký ức không cạn từ tuổi thơ cu Bưởi đến tuổi 80 (Phần 2 và hết)
Đọc tự truyện và hồi ký của Tô Hoài chúng ta còn thấy thêm một điều - dường như ở đây ông nói được nhiều hơn những gì mà ông từng kỳ vọng ở tiểu thuyết, ở những tác phẩm mà ông đã phải cất công đi tìm, đã phải rất khổ công trong lao động chữ nghĩa.
Hồi ức Tô Hoài: Dòng ký ức không cạn từ tuổi thơ cu Bưởi đến tuổi 80 (Phần 1)
Trong các nguồn mạch làm nên dòng sông chữ nghĩa nơi văn Tô Hoài khó nói mạch nào là chìm, mạch nào là nổi. Có chìm và có nổi, nhưng nổi hoặc chìm vẫn đều dồi dào trữ lượng và mang theo sự sống riêng, sự sống Tô Hoài.
Trần Đăng: Ngòi bút tiên phong khắc họa hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ
Có lẽ Trần Đăng là cây bút đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám cho ta làm quen sớm nhất với anh bộ đội Cụ Hồ. Là người Thủ đô, Trần Đăng viết về anh bộ đội chưa từng biết Thủ đô, hoặc có biết Thủ đô nhưng lại trở về trong tâm thế xa lạ và phủ nhận ánh sáng phù hoa của đời sống thành thị. Nét đó có phần lẫn lộn ít nhiều tâm trạng chủ quan, hoặc nói, theo tác giả, còn mang theo cái “xác chủ quan”.
Quang Dũng: Nhà thơ bình dị, hào hoa và hành trình lặng lẽ phía sau “Tây Tiến”
Quang Dũng - Dũng mà rất hiền, rất lành; tôi muốn dùng đến cả chữ lành để nói về ông mới thật sự đủ nghĩa và thỏa lòng. Vì hẳn chắc, cả cuộc đời, cho đến tuổi sáu mươi tám khi ông qua đời, ông chưa hề làm phiền ai, gây chuyện với ai. Ông cũng chưa hưởng được những gì ông xứng đáng được hưởng, không phải theo ý nguyện của ông - vì dường như chưa bao giờ ông thể hiện ý nguyện đó - mà với đóng góp của ông trong tư cách một nhà thơ, người đã có không ít những bài, những câu đẫm chất thơ và chất đời; người thuộc trong số không nhiều nhà thơ đã nói được một điều gì thật riêng và thật đáng giá cho nền thơ Việt Nam giữa thế kỷ XX của chúng ta.
Kim Lân – Người viết bằng cuộc đời lặng lẽ và nhân hậu (Phần 2 và hết)
Nghĩ mình kém tài hơn nhiều bạn văn, nên Kim Lân chủ trương viết bằng cái sống thực của mình; chỉ viết những gì mình trải, mình thuộc. Ra khỏi quỹ đạo ấy là gượng, là giả; và ông cũng đã từng phải xấu hổ vì cái giả ấy. Và có lẽ vì sợ giả, nên ông viết ít, và cũng không thấy sốt ruột lắm vì sự chậm viết này.
Kim Lân – Người viết bằng cuộc đời lặng lẽ và nhân hậu (Phần 1)
Ông là người cùng thế hệ, và là người cùng hoạt động với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Như Phong... Cùng với họ, ông có truyện trên Tiểu thuyết thứ Bảy và Trung Bắc chủ nhật trong những năm 1941-1945. Cùng hoạt động trong Hội Văn hóa cứu quốc đầu Cách mạng tháng Tám, và tham gia xây dựng văn nghệ kháng chiến, làm tờ Tạp chí Văn nghệ số 1 - tiền thân của tất cả các cơ quan ngôn luận của Hội Văn nghệ và Hội Nhà văn Việt Nam.
Tô Hoài: Từ “O chuột” đến “Truyện Tây Bắc”, hành trình văn chương qua kháng chiến (Phần 2 và hết)
Sau Cách mạng tháng Tám, ngòi bút Tô Hoài mở ra hành trình mới, từ Truyện Tây Bắc đến Miền Tây, ghi dấu niềm tin vào đổi thay và sự sống của con người miền núi. Văn ông vừa tiếp nối truyền thống vừa khắc họa hiện thực, trở thành biểu tượng đặc sắc của văn xuôi kháng chiến.