Lưu Quang Vũ – từ hiện tượng kịch trường đến tiếng nói sâu thẳm của thơ (Phần 1)

Có bao nhiêu điều đáng để nói, đã được nói, và còn chưa nói hết chung quanh Lưu Quang Vũ - tác giả kịch, hiện tượng xuất sắc, tiêu biểu của kịch trường Việt Nam những năm 1980.
Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ – gương mặt tiêu biểu của sân khấu Việt Nam thập niên 1980. Ảnh: Internet
Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ – gương mặt tiêu biểu của sân khấu Việt Nam thập niên 1980. Ảnh: Internet

Những năm đất nước cực kỳ khó khăn; sau khó khăn hậu chiến lại đến đáy những khó khăn của thời bình, để trổ ra lối thoát trong đổi mới, cũng là những năm thưa vắng, lắm khi hiu quạnh của kịch trường. Và Vũ đã đến đúng lúc, vào thời điểm ấy để góp công lớn làm sống lại các sàn diễn và để nuôi sống sân khấu, trong cả nghĩa đen của nó - nuôi sống biết bao đoàn hàng đêm, hàng năm. Trong 10 năm sáng tác, có những thời điểm như là sự kết tinh đột xuất của tài năng và sáng tạo Lưu Quang Vũ. Năm 1985, trong Hội diễn sân khấu toàn quốc, Vũ đoạt 6 Huy chương Vàng và 2 Huy chương Bạc. Năm 1988, trước lúc mất Vũ hoàn thành một lúc 4 vở, lại bắt tay vào 4 vở mới. Sức sáng tạo của Vũ khiến tôi nhớ đến thiên tài Balzac, nhà văn Pháp sống trước Vũ hơn một thế kỷ và thọ hơn Vũ một giáp - người mơ ước có hai bộ óc, hai bàn tay cùng cầm bút để cùng lúc tiến hành nhiều bộ tiểu thuyết một lần. Có kết quả nào dồi dào được đến thế, trong giới sáng tác của ta, ở tuổi 30 trước 40? Điều cần lưu ý thêm, là tuổi 30 sau một cơn khủng hoảng kéo dài không chút bình yên nào ở Vũ.

Sức sáng tạo ấy bỗng trở nên hết sức chói sáng, rồi đột ngột vụt tắt khiến cho không gian sân khấu bỗng trở nên im lìm và chìm trong ảm đạm, qua tâm trạng nhiều người. Bảy tháng sau ngày Vũ mất, đạo diễn Phạm Thị Thành viết: “Số mệnh anh như ngôi sao sáng, mọc nhanh, sáng rực rỡ và vụt tắt. Bỏ lại đêm tối và chúng tôi trong thầm lặng khóc anh”. Dư âm của mất mát trước hết vọng sâu vào kịch. Kịch trường không còn Vũ, nhưng vẫn còn các vở của Vũ. Những vở đã diễn hoặc còn chưa diễn vẫn tiếp tục sự sống của nó trong nhiều năm sau, và cho đến tận hôm nay, sau khoảng cách 30 năm! Đồng thời khi nỗi đau mất Vũ người dẫn đi theo thời gian, thì một sự sống khác vốn ẩn ngầm, bỗng trỗi dần lên - đó là sự sống của thơ. Một mạch thơ được khởi động từ 1965 khi Vũ chưa vào tuổi 20, kéo dài suốt thập niên 1970, có thưa đi trong những năm 1980, nhưng không bao giờ dứt, để sau khi Vũ mất, lại có bao nhiêu điều để nói, sau khoảng cách hơn 20 năm - trong cái khoảng lặng đầy u uẩn, bế tắc và xót đau của Vũ. Cái phần u uẩn ấy bỗng lại nói không chỉ về Vũ, mà về cả một thế hệ trẻ như Vũ lúc ấy; về một bối cảnh thời cuộc mà người đương thời là chúng ta không dễ nhận rõ được những mặt khuất chìm của nó; về những gì như là sự chuẩn bị những thuận lý và nghịch lý cho một Lưu Quang Vũ với diện mạo vừa hồn hậu vừa rất gân guốc, vừa khiêm nhường vừa xiết bao quyết liệt, như sau này ta được thấy.

Thơ là diện mạo tâm hồn con người, là sự chiêm nghiệm tận thâm sâu những buồn vui của cuộc đời. Trong thơ, Vũ đã sống một tuổi 20, rồi 30, với sự trọn vẹn cả hai mặt những vui buồn, những hy vọng và tuyệt vọng, những tin tưởng và hoài nghi, những đam mê và chán nản - điều có khác và hơi lạ so với âm hưởng chung, giọng điệu chung của thơ ca một thời.

Ấy là thời Vũ đã làm rất nhiều thơ; thơ viết dồn rồi để đấy, không thể hoặc chưa thể đưa đăng. Trường ca Đất nước đàn bầu dài 238 câu rất dễ đọc, và đọc rất liền mạch trong một vẻ đẹp dung dị mà rất tài hoa của ý và lời, thuộc trong số những bài rất hay của Vũ, hình như Vũ đã gửi đến nhiều tòa soạn báo, nhưng không báo nào chịu (hoặc dám) đăng:

Trái sung non thì chát

Quả dọc dài thì chua

Em đến cùng tôi như chùm vải đầu mùa

Tóc hoang dại lòa xòa trên ngực nắng

Ngực em sáng như mặt trời sắp lặn

Tôi đầm đìa sương lạnh của bờ đê

Tôi tắm đầy nước mắt của trời khuya

Trăng đã hiện, đêm ca dao vằng vặc

Những cô Tấm thử hài trong tiếng nhạc

Những nàng Kiều hồi hộp bấm dây tơ

Đêm sử thi náo động tiếng quân hò

Sôi trong máu những bầy voi nguyên thủy

Và, nói đến thơ, không thể không nói đến thơ tình Lưu Quang Vũ như một âm điệu nổi trội và xen cài suốt cả đời thơ hơn 20 năm ở anh, từ Hơi ấm bàn tay trong Hương cây năm 1967 đến Thư viết cho Quỳnh trên máy bay năm 1988... Bởi con người đa tài và đa tình ấy đã trải mấy tình yêu.

Trong Hương cây Lưu Quang Vũ đến với bạn đọc bằng những bài thơ tình anh viết về mình và cho mình. Những bài thơ của một tuổi trẻ rất nồng say với tình yêu và cuộc sống. Một cuộc sống mới vào cuộc chiến mà anh là người học sinh rất sớm mặc áo lính. Anh lính ấy đi trên đất nước, nơi nào cũng đậm hương cây và sắc xanh hoa cỏ. Tình yêu trong thơ do thế như là sự hòa trộn giữa hương cây và tình người:

Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài

Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ

Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ

Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa.

Trong anh, người yêu cũng tươi mát như cây, cũng lung linh như cầu vồng bảy sắc. Cảm nhận rõ vị thơm mát và hình dung rõ thân hình và gương mặt người yêu, Vũ cũng nhận biết đến thật rành rõ cái vô hình “ríu rít” của tình yêu:

Biết bao điều anh còn chưa nói được

Ríu rít trong lòng một nỗi em.

Tôi thuộc rất sớm hai câu thơ này của Vũ vào cái thời tôi say đọc Phù sa của Đỗ Chu; và cứ bâng khuâng hoài với cái “ríu rít” này - sao nói được nhiều đến thế những chuyện không thể giải trình hết được bằng lời.

Vũ đã sống một tuổi trẻ thiết tha mà rạo rực như thế trong một tình yêu đầu; rồi sớm có một tổ ấm gia đình với vợ và con ở tuổi mới ngoài 20. Chưa kịp cảm nhận đủ cái hạnh phúc được hứa hẹn sau “một nỗi em” “ríu rít”, bỗng ập đến một sự tan vỡ của gia đình và cuộc tình - một sự tan vỡ mà Vũ đã chấp nhận, và dành toàn bộ sự bất hạnh và cam chịu về mình:

Hai ta không đi một ngả đường dài

Không chung khổ đau, không cùng nhịp thở

Những gì em cần anh chẳng có

Em không màng những ngọn gió anh trao

Chiếc cốc tan không thể khác đâu em

Anh nào muốn nói những lời độc ác

Như dao cắt lòng anh như giấy nát

Phố ngoài kia ngột ngạt những toa tàu.

Bất hạnh tình yêu càng lớn, càng nặng thêm bởi nó “trùng lai” với bao dồn dập tai ương của cuộc sống: Rời quân ngũ, không biên chế, không nghề nghiệp, không việc làm... Hãy cứ thử hình dung, sự sống với chỉ một chuyện không ấy trong bối cảnh “Tối đen thành phố đêm lưu lạc. Máy bay giặc rú ở trên đầu”... Hãy chỉ chịu đựng một trong các bất hạnh ấy thôi cũng đủ u ám lắm rồi, huống nữa lại dẫn đến với anh bao bất hạnh cùng lúc. Dễ hiểu những câu thơ đến như tuyệt vọng của Vũ:

Có những lúc tâm hồn tôi rách nát

Như một tấm gương chẳng biết soi gì.

Tình yêu đầu tan vỡ đã bồi thêm một đòn quyết định cho toàn bộ các bi kịch bỗng dồn đến với tuổi 20 của đời Vũ; và mặt khác, các bi kịch ấy lại cũng dồn đẩy cho tình yêu, nếu còn chút hình hài, nhanh chóng bị vùi vào dĩ vãng:

Gương mặt em chỉ còn là kỷ niệm

Mối tình xưa anh cũng đã quên rồi.

Chấm dứt nhanh chóng cuộc tình thứ nhất với cô diễn viên điện ảnh xinh lại nhanh chóng đến với anh mối tình thứ hai; nhưng rồi hạnh phúc mới chưa kịp tỏ bày thì đã phải tuôn trào những đắng cay thất bại:

Nghĩ về em bao buổi chiều lặng lẽ

Tìm trong em bao khát vọng không ngờ

Môi tôi run những lời nói dại khờ

Em ẩn hiện sao còn xa lạ thế

Tôi ảo tưởng quá nhiều ư? Có lẽ

Em cần gì gió lốc của đời tôi

Nỗi đau cứ lặng lẽ như thế mà ngấm dần vào thẳm sâu, mà làm tắt dần mọi niềm yêu. Nhưng đây là cuộc tình thứ hai, cuộc tình dường như đã được đến quá nhanh, để mong khỏa lấp nỗi trống trải, hoang vắng của lòng? Thời gian rồi sẽ càng làm ngấm thêm nỗi đau của nó trong xô đẩy và chen chúc của biết bao sắc màu hình ảnh:

Qua thất vọng tôi hồ nghi mọi chuyện

Tìm trong mắt em náo động những chân trời

Ngõ phố dài hôm ấy mưa rơi

Đã xa vắng trên mặt đường ướt lạnh

Tóc em rối và áo em đỏ thắm

Những bức tranh nổi gió ở trên tường

Thế giới xanh xao những sự thực gầy gò

Em đã đập vỡ ra từng mảnh

Giấu sôi sục trong những đường nét lạnh

Em đi tìm thế giới của riêng em...

GS. Phong Lê