Thanh Hải – tiếng thơ trung kiên của một thế hệ trong năm tháng chia cắt (Phần 1)

Bài thơ Những đồng chí trung kiên Thanh Hải viết từ năm 1952, về một cuộc chống càn ở Hướng Điền, đăng ở một tập thơ chung của Chi hội văn nghệ kháng chiến Liên khu Bốn, sau này được chọn làm tên chung cho tập thơ đầu tiên của ông in ở miền Bắc, năm 1962.
Nhà thơ Thanh Hải. Ảnh: Internet
Nhà thơ Thanh Hải. Ảnh: Internet

Tập thơ gồm những bài được viết trong một thời kỳ gian khổ của cách mạng miền Nam, giai đoạn 1954-1960. Còn nhớ tình cảnh đất nước bị cắt chia lúc ấy... Còn nhớ âm mưu thâm độc của kẻ thù, bằng mọi cách bưng bít, ngăn cản, phá hoại hiệp thương Tổng tuyển cử, hòng duy trì vĩnh viễn ách chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, mới thấy quý những bài thơ “vượt tuyến” lúc bấy giờ, trong đó có đóng góp của Thanh Hải. Những bài thơ nói lên tình cảm xót xa của sự chia cắt và cách biệt, niềm khát khao Bắc - Nam thống nhất, quyết tâm đấu tranh và lòng tin. Để đạt mục tiêu này, Thanh Hải chọn cách nói kể chuyện, kể việc, kể những gì hàng ngày đang diễn ra bên kia cầu Hiền Lương và sông tuyến, bên kia những vành đai, rào vây, dây thép gai của Mỹ-Ngụy. Tập thơ mỏng mà chứa một lượng tin không nhỏ: Chuyện đồng bào biểu tình bãi chợ, chuyện giặc đàn áp khủng bố, chuyện cán bộ bám đất gây phong trào, chuyện bà mẹ nuôi giấu chở che cán bộ, chuyện đồng bào Kinh Thượng đoàn kết đấu tranh, chuyện em bé cất giấu ảnh Bác, chỉ trong đêm mới dám đưa ra ngắm nhìn:

Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ
Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn

(Cháu nhớ Bác Hồ)

Và người vợ, cũng chỉ trong đêm, qua chiêm bao mới có dịp “vượt tuyến” thăm chồng:

Giữa miền Nam đau khổ
Anh ơi anh biết chăng?
Lòng em thường vượt tuyến
Đêm đêm ra thăm anh.

(Vượt tuyến)

Trong chùm thơ ấy, bạn đọc miền Bắc lần đầu tiên nhận ra giọng điệu Thanh Hải - một giọng điệu chân chất, tự nhiên. Giọng điệu ấy gần như tìm được sự phô bày thích hợp ngay trong bài thơ đầu đến với công chúng miền Bắc của ông, bài Mộ anh hoa nở:

Hôm qua chúng giết anh
Xác phơi đầu ngõ xóm
Khi lũ chúng quay đi
Mắt trừng còn dọa dẫm,
- Thằng này là cộng sản
Không được đứa nào chôn!

Ngay từ câu đầu và trong khổ thơ 5 chữ, bài thơ gợi nhớ đến Viếng bạn của Hoàng Lộc năm nào:

Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ...

Cùng nói về những hy sinh, sự chia lìa, về một cuộc đưa tiễn cuối cùng và tấm lòng người ở lại, về sức mạnh được nhân lên từ nỗi đau, nhưng không giống Hoàng Lộc, Thanh Hải ở đây chỉ đóng vai một nhân chứng khách quan để kể chuyện. Ông kể chuyện nhân dân bất chấp kẻ thù hăm dọa vẫn chôn cất người cộng sản và trồng hoa lên mộ anh. Người làm thơ cố nén không nói xúc động riêng của mình. Cũng không triết lý. Thế nhưng, từ bài thơ có sức đúc kết: Có áp bức có đấu tranh. Hình ảnh “máu nở thành hoa” trên mộ người cộng sản trong khổ thơ cuối, rồi hình ảnh “A Vầu làm lúa, Vàng rẫy vàng đổi”, cùng với những bài thơ Tây Nguyên, như Mong anh về ngay buôn rẫy, Dưới bóng cây Kơ-nia, với thơ Giang Nam, và sau đó ít lâu, những lá thư trong Từ tuyến đầu Tổ quốc, và hồi ký Những ngày gian khổ... sẽ là những trang hiếm có gì thay thế được, đánh dấu gương mặt một thời. Cách mạng đang bị bóp nghẹt bỗng cất lên được tiếng nói.

Những nỗi đau nếu được nói lên, được chia sẻ với người khác, sẽ vợi đi không ít. Còn nhớ nỗi khắc khoải chờ đợi vào những năm tháng ấy... Còn nhớ không ít tâm trạng lo lắng, và thậm chí đôi khi như bối rối, hoang mang ở một số người trong chúng ta trước những tin tức “không vui” từ trong ra... mới thấy quý biết mấy một tiếng nói chính từ đời sống cất lên, một tiếng nói của sự thật, của lòng tin, như trong thơ Thanh Hải.

Bài thơ Những đồng chí trung kiên Thanh Hải viết từ 1952, cuối kháng chiến chống Pháp, lần này lại được chọn để khép tập thơ ra đời vào những ngày sôi sục chống Mỹ, với nhịp kể liền mạch, gối vào nhau như không dứt:

Nước bốn bề tràn ngập
Tội giặc lại chồng chất
Những đồng chí ta ơi
Những thôn nghèo chơi vơi
Nước tràn lên tận mái
Nước về làng sâu hoáy
Hầm lút tan hết rồi

Địch vây càn, dồn dập đạn pháo, máy bay, lại thêm lũ lụt, thôn làng ngập trắng, không thể ở hầm, không thể ở nước, nhưng người cách mạng vẫn phải bám trụ với đất, với dân. Mọi tình huống căng thẳng lại vẫn diễn ra trong gấp gáp của mạch thơ - vẫn mạch thơ 5 chữ, gợi những vần thơ về Quảng Trị gian khổ chống Pháp năm xưa ở Vĩnh Mai:

Giặc trên không đổ xuống
Giặc dưới đất đùn lên
Giặc vây chặt bốn bên,
Giặc đan dày bổ lưới...

Dồn theo diễn biến tự nhiên của sự việc và dường như không cần đến sự gọt giũa, bài thơ vẫn có một “điệu” riêng, một tiếng nói bên trong của nó. Một tiếng nói được quy định bởi chính hiện thực một vùng đất: Chiến trường Trị Thiên đất hẹp, biển rừng nối lưng nhau, người cách mạng không thể đi đâu, chỉ có thể bám trụ, quần nhau với địch mà sống..., và do vậy khái niệm đất đai quê hương càng thiêng liêng, thiết cốt như núm ruột - một chữ núm, từ Vĩnh Mai:

Quyết ôm chặt xóm làng
Như ấp iu núm ruột

Đến Thanh Hải:

Cán bộ không rời xóm
Níu lấy núm quê hương

Dấu ấn riêng của một vùng đất - để cho thật rõ lên, quả không phải là chuyện dễ dàng. Phải gắn bó với nó thật sâu, đồng thời lại phải hiểu rõ nhiều vùng đất khác. Sau này Thanh Hải còn nhiều bài thơ viết về Huế. Nhưng để nắm được “hồn” riêng của Huế, có thể là người đọc dễ tìm thấy nhiều hơn ở Tố Hữu. Dẫu sao, trong ấn tượng chung gộp lại, những thoáng nhận trên trong thơ Thanh Hải về Trị Thiên, về Huế, cũng như trong thơ Giang Nam về mảnh đất Cực Nam Trung Bộ, ở Anh Đức về Cà Mau..., cũng đã gợi cho ta niềm hứng thú theo dõi một cuộc chiến đấu đang mở ra trên khắp địa bàn miền Nam. Một cuộc chiến đấu lại được tiếp tục - và lần này, với quy mô và tính chất khác trước; lần này, tiếng súng và tiếng thơ cùng hòa nhịp.

Ở trên có nói đến một nét riêng trong giọng điệu Thanh Hải: Chân chất, mộc mạc. Nhà thơ ít muốn giãi bày về mình, mà chỉ muốn làm một nhân chứng, một người kể chuyện. Chuyện kể, ấy là chuyện đời. và mảng đời thật sâu đậm ông muốn nói với chúng ta là những hy sinh của người chiến sĩ cách mạng. Thay mặt họ, ông nói lên ý chí kiên trung, bất khuất; thay mặt ta, nói lên niềm biết ơn; và thay thời gian, nói lên sự trường tồn của khuôn mặt họ trong cuộc đời. Mảng viết này có thể xem là đường dây chính xuyên suốt trong thơ Thanh Hải, dầu không phải tất cả đều đã được ông chuyển thành thơ, đã có sức mạnh của thơ; lắm khi ông cứ để nguyên giọng kể văn xuôi. Có lẽ còn phải có thêm khả năng tái tạo, chuyển hóa, để làm cho sự sống và câu chữ quyện vào nhau hơn, lung linh hơn, ám ảnh người đọc hơn. Nhưng đến những đoạn này, người đọc dầu vô tình cũng không dễ lướt qua:

Ai có về sâu dưới ấy vùng ven
Ở với đồng chí mình những năm dài thuở ấy
Hầm dưới lùm tre rì rào nước chảy
Xâm xấp bùn, xâm xấp mưa ngâm
Nằm co chân, ngồi dậy khom lưng
Bật nắp lên vội vàng về cơ sở
Cơm miếng nuốt, miếng nhai, giặc đi rình chó sủa
Họp chi bộ rồi, củng cố đường dây
Huyện chưa ai về, ai đi đón tối nay
Liệu có nên tạt qua nhà thăm mẹ?

Đoạn thơ có tên Hành khúc người ở lại, trích đoạn trường ca Những đồng chí trung kiên mà Thanh Hải cho biết là ông đang soạn tiếp, sau gần ba mươi năm. Đoạn thơ vẫn tiếp tục trở lại bối cảnh 1954-1960 của cách mạng miền Nam qua chân dung nhiều khuôn mặt, trong đó nhà thơ tập trung nói về người cán bộ nằm vùng, dầu dãi bao tù đày, không lo giặc, không sợ giặc, chỉ lo hàn nối đường về cơ sở; trải bao năm tháng long đong trên các nẻo đường rừng, ngủ lại bờ khe trong tiếng gầm của cọp, vết thương trở trời lại nhức nhối, giữa cơn sốt liên miên, miệng chát ngòm “thèm một miếng đường đen”...

Dấu ấn một giai đoạn lịch sử trên một vùng đất với những đặc sắc riêng của nó; sự nung nấu dồn nén để chuẩn bị cho một cơn giông đang ập tới - cuộc đồng khởi trên toàn miền Nam; gương mặt “những đồng chí trung kiên” làm nên bước ngoặt vĩ đại đó..., đấy là những chuyện đời có thể tìm thấy trong thơ Thanh Hải. Góp vào việc tạo dựng không khí đó, và cắt nghĩa cho sự bùng nổ đó, thơ Thanh Hải ngay từ đầu những năm sáu mươi đã đến với bạn đọc chúng ta như một người đưa tin, một người trong cuộc. Là người đưa tin - ông là cầu nối. Là người trong cuộc - ông làm bằng chứng. Tiếng thơ Thanh Hải là một tiếng thơ quý. Quý ở sự sống và chất thơ, nhưng trước hết là sự sống.

GS. Phong Lê