Hoàng Trung Thông: Nhà thơ xứ Nghệ và dấu ấn 10 năm lãnh đạo Viện Văn học (Phần 1)

Tôi có kỷ niệm 10 năm cùng làm việc và ngót 50 năm biết Hoàng Trung Thông. Biết ông, vì ông là đồng hương xứ Nghệ, một nhà thơ nổi tiếng mà từ tuổi học trò, không chờ đến khi được phổ nhạc, tôi đã thuộc Bao giờ trở lại? cùng với Bài ca vỡ đất, với những vần thơ gần gũi, chắc nịch như chất người Nghệ Tĩnh quê tôi, quá quen với nắng hạn và gió Lào khô khát.
Nhà thơ Hoàng Trung Thông
Nhà thơ Hoàng Trung Thông. Ảnh: Internet

Biết kỹ hơn về ông, khi tôi vào nghề, qua các cương vị ông đảm nhiệm trước khi ông về Viện Văn học năm 1975, để nhận chức trách Viện trưởng. Đó là Tổng biên tập, là Giám đốc một số cơ quan báo chí, xuất bản... Và cuối cùng là Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương — nơi phát các tín hiệu quan trọng cho định hướng công tác của các cơ quan văn hóa, văn nghệ, trong cả một thời dài.

Biết ông, với sự kính trọng và ngưỡng mộ, không chỉ ở tư cách nhà thơ nổi tiếng thuộc thế hệ thứ hai nền thơ Việt Nam sau 1945 - thế hệ kháng chiến chống Pháp, mà còn ở tư cách người lãnh đạo; nên khi được biết ông sẽ là Viện trưởng - thủ trưởng mới của mình, tôi không cảm thấy ngạc nhiên nhiều lắm; mặc dù có những điều hơi không bình thường trong câu chuyện này. Chẳng hạn Viện trưởng Đặng Thai Mai lúc bấy giờ, sau khi ông Hoài Thanh chuyển sang Hội nhà văn, cuối 1969, đã có ba Viện phó, cả ba cùng về Viện với Đặng Thai Mai từ trước và sau 1960, nhưng sao ông lại không chọn một trong ba người? Chẳng hạn Hoàng Trung Thông kém Đặng Thai Mai những 23 tuổi; với độ chênh ấy, sao vẫn giành được sự tin cậy của Đặng Thai Mai? Đó là không kể, ông là nhà thơ, ngay từ khi xuất hiện; và như sau này ta đã biết, cho đến khi qua đời, ông vẫn trung thành với ông là một nhà thơ; và chỉ riêng là một nhà thơ (có kiến thức) như ông cũng đã là quá đủ, chứ đâu cần đến những là Phó Giáo sư, Giáo sư, Viện sĩ... để mà làm Viện trưởng!

Không ngạc nhiên khi đón Viện trưởng mới là Hoàng Trung Thông, nhưng sự tò mò thì vẫn còn. Hãy thử xem ông nhà thơ này điều hành như thế nào một cái Viện thuộc Ủy ban Khoa học xã hội - tức là một Viện Hàn lâm khoa học hẳn hoi, chứ không phải thuộc Ban Tuyên huấn, hay Bộ Văn hóa, hoặc Hội liên hiệp văn học nghệ thuật... Và tò mò là có lý. Thế nhưng sự tò mò không kéo quá lâu. Chỉ sau một thời gian ngắn, tính bằng tháng, chứ không phải bằng năm, ông đã hòa được vào guồng chung của Viện, mà không quan tâm lắm đến những nghi thức, bàn giao, họp hành, xử lý quan hệ cá nhân. Tôi nhớ có cuộc họp để chia tay một Viện phó chuyển sang cơ quan khác, nhưng ông này lại không đến dự, và ông Thông tuyên bố ngay giữa đông đủ cán bộ cơ quan là dẹp bỏ cuộc liên hoan chia tay. Và ông thâm nhập sâu vào các Ban chuyên môn, nắm các chuyên gia, bắt đầu từ hai Ban Cổ Cận đại và Hiện đại; và cho triển khai ngay những công việc gắn với thời kỳ mới của cách mạng thật mới mẻ và ngổn ngang sau Đại thắng mùa xuân 1975, trong khi cuộc chiến vẫn diễn ra khốc liệt ở hai đầu biên giới phía Bắc và Tây Nam.

Một số công trình quan trọng của Viện về Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh; về truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm trong lịch sử văn học Việt Nam; về văn học chống Pháp và văn học chống Mỹ... đã ra đời trong những năm này.

Không cần quá lâu để hiểu được khả năng thích ứng và chủ động của Hoàng Trung Thông trong cương vị mới này. Ông được sự tin cậy của Giáo sư Đặng Thai Mai. Ông có một vốn tri thức vững vàng về văn học dân tộc gắn với sự nhạy bén trước những vấn đề của sinh hoạt tư tưởng và văn học đương đại. Tuy chưa đến trình độ uyên thâm của một học giả như Đặng Thai Mai, nhưng ông có sự hiểu biết cả hai nền văn hóa Đông-Tây. Tóm lại, vừa là người lãnh đạo, đã từng chèo chống cho đời sống văn học đi đúng đường lối văn nghệ của Đảng, ông còn là một nhà thơ có kiến thức. Cái kiến thức, với cả chiều rộng và chiều sâu cần thiết của nó, quả không có nhiều trong giới sáng tác, trừ một số ít người như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi... Có thế, Hoàng Trung Thông mới có thể tiếp tục Đặng Thai Mai để điều hành công việc ở phía dưới, và đối thoại với phía trên, trong một cơ quan nghiên cứu học thuật. Đó là điều quan trọng nhất. Thiếu nó, không được. Không kể những phẩm chất khác ở một người lãnh đạo mà ông đã quá quen, trong trường hoạt động chính trị, khi được điều về một cơ quan còn đang xộc xệch vì mất đoàn kết nội bộ quá lâu như Viện Văn học thời kỳ 1970-1975, sau khi nhà phê bình Phó Viện trưởng Hoài Thanh rời Viện.

Thời Hoàng Trung Thông làm Viện trưởng cũng là thời tính chiến đấu được đưa lên hàng đầu trong mục tiêu công tác của Viện. Ông là người đã thay mặt Viện đọc báo cáo trong Đại hội Hội nhà văn Việt Nam lần thứ Ba, năm 1983, khẳng định vị trí người công tác lý luận - phê bình “không những chỉ là người lính gác mà còn là người lính xung kích”. Cái định danh lính gác và xung kích này đến bây giờ nghe ra không thiện cảm lắm, nhưng cả một thời dài là như thế, khi công tác lý luận phê bình được xem là “một phương thức chỉ đạo của Đảng trên mặt trận văn hóa - văn nghệ”. Do vậy việc điều một Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc cơ quan Đảng về lãnh đạo Viện Văn học thuộc hệ thống các cơ quan nghiên cứu khoa học không những là có thể, mà còn là cần thiết trong hoàn cảnh ấy; nhất là khi vị Vụ trưởng ấy là Hoàng Trung Thông - một người có kinh nghiệm, lịch hoạt động dầy dặn và có cái vốn tri thức văn hóa đáng vị nể.

Nhưng Hoàng Trung Thông còn là một nhà thơ, và là nhà thơ xứ Nghệ. Với tư cách này, ông có thêm cái lợi thế gần gũi, giản dị, dễ hòa hợp với anh chị em cán bộ trong và ngoài Viện. Trong lịch sử Viện, cho đến thời Hoàng Trung Thông, và kể cả sau này, tôi chưa thấy có bậc lãnh đạo nào yêu mến và gần gũi với chị em phụ nữ, và được chị em phụ nữ yêu mến như Hoàng Trung Thông. Có một bà vợ rất yêu chồng, và rất mến bè bạn của chồng, nhà ông thường xuyên có những cuộc liên hoan mà khách mời thường là chị em phụ nữ của Viện. Chỉ chị em thôi, còn các đức ông chồng thì chỉ có phận sự đưa vợ đến 70 Ngô Quyền rồi trở lui về nhà hoặc về lại Viện. Thường xuyên ghé vào các Ban chuyên môn để trò chuyện là thói quen của ông. Rủ anh em, hoặc được anh em rủ vào những quán cóc, để uống chè, có thêm chén rượu; ở đó những chuyện chung và riêng, công và tư đều có thể giãi bày. Xuề xòa là thế nhưng đừng tưởng là ông quá đà, để có thể “bẫy” được ông; bởi “phương diện quốc gia” và sự tỉnh táo của thủ trưởng vẫn là nét chi phối ông, cho đến trước khi ông về hưu, năm 1985, ở tuổi chẵn 60.

Mười năm ở cương vị Viện trưởng ông đã làm được rất nhiều cho Viện Văn học. Còn chúng tôi, trong mười năm thời ông, chúng tôi cũng đã làm được rất nhiều việc. Mười năm gắn với một thời cuộc tuy đã vãn tiếng súng nhưng vẫn còn rất căng thẳng và nguy hiểm. Đại thắng mùa xuân nhưng chưa hết chiến tranh. Đất nước thống nhất nhưng còn bao điều phải giải quyết cho sự hòa hợp dân tộc. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có trên mười lăm năm, nhưng đang đi vào thế kẹt của thời bao cấp khiến cả dân tộc điêu đứng như gương mặt một người “mất sổ gạo”. Vào thời điểm ấy, mọi hoạt động nghề nghiệp gần như đều hướng vào phương châm “tự cứu”, để tồn tại - chữ tồn tại được hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng./.

GS. Phong Lê