
Nguyễn Đức Hiển viết không nhiều, và những chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm là rất kĩ lưỡng. Chỉ có ba truyện về đề tài lịch sử, chủ yếu là viết cho thiếu nhi; nhưng được đọc rộng rãi trong các giới người lớn. Một là Nhụy Kiều tướng quân, dưới bút danh Yên Hồng và Hoài Ban, in lần đầu năm 1962; sau nhiều lần tái bản, đến bản in năm 1980, đổi tên sách là Bà Triệu, dưới bút danh Nguyễn Đức Hiền. Bản in năm 2007 của Nhà xuất bản Kim Đồng, tôi đang đọc là lần tái bản thứ mười. Một kỉ lục tái bản còn hơn thế là Sao Khuê lấp lánh, in lần đầu năm 1975 (nhưng những chuẩn bị cho bản thảo là từ 1965), bản in năm 2007 gồm cả Bà Triệu, tôi đang đọc là lần tái bản thứ 11.
Một sự nghiệp viết ở khu vực sáng tác, xem ra tưởng là mỏng và nhẹ, nhưng lại có sức sống bền lâu. Viết cho thiếu nhi nhưng có nhiều giới bạn đọc. Đề tài lịch sử, một về chiến tranh, một trong thời bình. Cảnh quan là cảnh quan chung của đất nước, nhưng có điểm nhấn là xứ Thanh. Các chứng tích lịch sử được khai thác triệt để; nhưng không quá câu nệ vào sự thực, để cho nhân vật lịch sử có được sự sống riêng, hướng vào các chủ đề được chọn.
Vua Bà Triệu Ẩu, hoặc Triệu Thị Trinh, Triệu Trinh Nương, Triệu Quốc Trinh là nhân vật đã vào sử sách, qua câu nói bất hủ được tác giả đặt rất đúng chỗ trong truyện: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, đánh đuổi quân Ngô, dựng quyền tự chủ, cởi ách nô lệ cho giang sơn, chớ tôi đâu có phải là kẻ chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”. Hình ảnh bà mặc áo vàng, cưỡi voi, xông xáo giữa ba quân trong tiếng cồng trầm hùng, giục giã, đã là một biểu tượng quen thuộc trong tâm thức của nhân dân. Nhưng chỉ vậy thôi chưa đủ chất liệu cho một truyện. Phải tạo một cốt truyện, với nhiều tình huống, nhiều chi tiết. Phải có nhân vật thuộc nhiều tuyến. Có tướng và quân. Có dân và quân. Có người già người trẻ. Có ta và địch... Tất cả đều trong tầm đón của sức tưởng tượng và khả năng tạo dựng của tác giả để cho mạch truyện được diễn biến tự nhiên, hợp lý, không gây nên sự hẫng hụt nào trước một đối tượng miêu tả, do lùi quá sâu về lịch sử nên còn rất ít chứng tích, như lịch sử Bà Triệu.
Viết Nhụy Kiều tướng quân (và về sau là Bà Triệu) Nguyễn Đức Hiền có một ưu thế lớn, đó là người con của xứ Thanh. Rất hiểu và yêu xứ Thanh - quê của Vua Bà nên các cảnh quan trong truyện là quá quen thuộc và gần gũ để ông đưa vào truyện - đó là núi Nưa, núi Tùng, núi Chung Chinh, núi Vàng Bạc, Mũi Rồng, bến Bồ Điền, động Xuân Đài, thành Tư Phố, làng Bựa, Kẻ Vụt, cửa Lạch, sông Mã, sông Chu... Chân dung Vua Bà do vậy hiện lên thật sống động và khoáng đạt trong những cảnh quan được miêu tả rất có thần. Khai thác tối ưu những gì lịch sử lưu lại được để cho cuộc khởi nghĩa của Vua Bà có được dấu ấn riêng của nó, trong so sánh với Hai Bà Trưng trước đó hai trăm năm, Nguyễn Đức Hiển đã rất thoải mái và thanh thoát trong những trang miêu tả người nữ anh hùng đất Việt của xứ Thanh. Tác giả cũng đã biết cách kết thúc truyện không phải là một thất bại với cái chết đã được biết trước vào sáu tháng sau cho vị nữ tướng ở tuổi hai mươi ba; mà là khúc khải hoàn của một trận thắng của tình yêu nước trong gắn nối tuyệt vời với tình yêu quê hương; khiến tôi đã rất hứng thú khi tìm được sự gắn nối này trong đoạn kết của truyện - một đoạn văn tiêu biểu cho văn phong Nguyễn Đức Hiển:
“Đất Giao Châu vẫn còn bóng giặc Ngô. Nhưng một quận thành đồ sộ, hiểm yếu đã hoàn toàn nằm trong tay nghĩa quân. Tòa địch lâu của Tiết Kính Hàn nay trở thành vọng canh tiền tiêu của nghĩa quân. Từ trên lầu cao, quân canh của Bà có thể kiểm soát được cả một vùng núi sông rộng lớn, suốt một dải vòng cung từ đình Chung Chinh có động Xuân Đài, có đồng Lăng Chúa... cho đến Ngàn Nưa hùng vĩ, căn cứ đầu tiên của huyện Vô Biên, cũng là nơi tráng sĩ, hào kiệt bốn phương tụ hội dưới lá cờ nghĩa của họ Triệu. Trước tầm mắt người lính canh, là con sông Mã oai hùng, nước cuồn cuộn cắt ngang mũi Rồng xiết qua kẻ Gốm, kẻ Vụt, nơi có rừng dừa sum suê bát ngát, rồi chảy về cửa Lạch, đổ thẳng ra biển Đông. Xa xa... rặng sa mộc mờ xanh: dãy núi Độc Cước phía đông và dãy núi Vàng Bạc phía tây nam như là hai hàng mi không bao giờ khép lại, nhìn chăm chăm ngày đêm ra biển cả. Thỉnh thoảng một đợt sóng cồn lại xô tới, trên vọng canh tiền tiêu nhìn thấy rõ cả đỉnh những con sóng bạc đầu. Từ đây, hàng vạn tráng sĩ đất Cửu Chân, nguyện mãi mãi đứng dưới lá cờ Bà Triệu, quyết theo Bà đạp bằng mọi luống sóng dữ để một ngày không xa mang lại no ấm yên vui cho người dân trên toàn cõi Châu Giao. Dưới chân thành, tiếng loa vẫn vang vang thúc giục. Khắp nơi, cha mẹ vợ con đang hối hả thu xếp khăn gói cho người thân của mình mau mau đến nơi tuyển mộ, sung vào những đội quân đi giải phóng Giao Chỉ, Nhật Nam. Tiếng loa truyền, vọng đi khắp các ngả tưởng như không bao giờ dứt...”
Tôi nghĩ những đoạn văn như thế này rất nên đưa vào môn tập làm văn hoặc tập đọc cho học sinh phổ thông cấp dưới.
Mười năm sau thành công của Bà Triệu là Sao Khuê lấp lánh tác giả chọn viết về Nguyễn Trãi, với cảm hứng lớn đến từ câu thơ của Lê Thánh Tông: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”.
Khỏi phải nói Nguyễn Trãi là vĩ nhân hàng đầu của lịch sử dân tộc. Là “người chân đạp đất Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lý tưởng cao quý...; là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” - như lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (báo Nhân dân ngày 19 tháng 9 năm 1962). Một chân dung như thế là rất lớn, là có rất nhiều chiều cạnh, là có bao bình diện cho người viết khai thác. Chỉ riêng “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” đã đủ làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Thi trong kịch trường. Rồi: theo cha lên biên ải. Chờ thời, vào Lam Kinh dâng Bình Ngô sách. Trong và sau chiến thắng với Bình Ngô đại cáo. Được tin dùng, được trọng dụng và được nhà vua cho hưởng đặc ân đổi họ là Lê Trãi. Rồi, với bi kịch Lệ Chi Viên...
Ở đây, trong Sao Khuê... Nguyễn Đức Hiền đã chọn không phải là trong mà là sau Lệ Chi Viên. Tức là khi khối bi kịch khủng khiếp đến với cả ba họ gia tộc Ức Trai đã lùi vào lịch sử, nhưng âm hưởng thống thiết của một nỗi oan sâu vẫn là một hiện hữu để làm nên thước đo hoặc động lực cho những tấm lòng trung nghĩa. Một câu chuyện về Nguyễn Trãi nhưng Nguyễn Trãi không xuất hiện. Một cốt truyện không có nhân vật chính nhưng nhân vật chính nơi đâu cũng có - trong tâm trí, tâm thức của nhiều hệ nhân vật, trong đó đóng vai trò trung tâm là môn sinh Lê Đàm. Và nhuần thấm trên khắp các trang viết - là sự sống Nguyễn Trãi, là trí tuệ anh minh, tâm hồn cao khiết của Nguyễn Trãi, được nuôi dưỡng bền vững trong lòng và làm nên cốt cách của các môn sinh; là giọt máu ông để lại được bao bọc, giữ gìn nơi người vợ là Phạm Thị Mẫn; là cả số phận của mẹ con hoàng phi Ngô Thị Ngọc Dao - Lê Tư Thành, người từng chịu ơn Nguyễn Trãi và rồi sẽ chiêu tuyết cho nỗi oan Nguyễn Trãi... Tất cả làm nên đặc sắc trong cách khai thác và thể hiện của Sao Khuê.../.