
Tôi đã đọc ngay cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam sau khi anh Đỉnh tặng, với sự hăm hở, và rồi, xót xa thay, với niềm thương tiếc về sự ra đi quá sớm, và có phần đột ngột ở anh. Tôi nhớ đó là những ngày toàn đất nước hồi hộp và khẩn trương sải dài từng bước đi tới Đại thắng Mùa xuân 1975. Càng trong niềm vui chiến thắng càng thương tiếc anh! Tôi đã đọc với sự nhủ lòng phải đọc đi đọc lại nhiều lần cuốn sách để luôn luôn được hứng thú với di sản văn hóa dân gian dân tộc trong một tiến trình lịch sử. Nghĩa là để có thể hình dung một hành trình tinh thần của nhân dân, cùng gương mặt của nhân dân trong lịch sử. Một đối tượng vừa lãng mạn vừa hiện thực, vừa kỳ vĩ vừa cụ thể mà người viết nếu không là người có khả năng hình dung và tưởng tượng, nếu thiếu đi hoặc yếu đi khả năng khái quát và tái tạo thì sẽ không sao nắm bắt và làm chủ được. Người giàu sức tưởng tượng và khả năng khái quát đó cũng là một người viết văn nghiên cứu rất có văn. Không phải thứ văn để có văn, mà là thứ văn nghiêm trang mà rất chân cảm trước một đối tượng nghiên cứu là một thực thể rất có hồn. Phải yêu lắm, phải rung cảm lắm, và cũng phải có một tư duy xác thực, rành rõ lắm mới viết được lối văn như thế.
Học anh Cao Huy Đỉnh tôi luôn luôn nghĩ đến chu trình mười năm cho một khái quát rất sáng giá về văn học dân gian Việt Nam. Anh đã khẩn trương tiếp nhận, học hỏi để kịp người, và cuối cùng để có thể xứng đáng tiếp tục người trước, ở một khái quát như thế. Dĩ nhiên tôi hiểu là vẫn còn cần nhiều điều chỉnh trong khái quát ấy để đạt được sự tin cậy tối ưu; hoặc cũng có thể cần đến những khái quát mới khi đời sống tư liệu đầy đủ hơn, phong phú hơn. Sự nghiệp khoa học và kết quả nghiên cứu dẫu ở bất cứ khu vực nào, biết đến bao giờ là cùng và biết thế nào là cùng!
Phần tôi, tôi cũng đã có một chu trình 10 năm như thế cho sự nghiệp nghiên cứu của mình. Nhưng cho đến lúc ấy, trong tôi vẫn cứ là ngổn ngang thế nào, chứ không được rành rõ, sáng sủa như anh Đỉnh.
Thì ra, để có 10 năm chí thú và hiệu quả đó, anh Đỉnh đã phải chuẩn bị trên rất nhiều phương diện. Không có chuẩn bị nào là ra “ngoài” cái khung đã được nhen nhóm, đã được hình dung. Có hoàn cảnh thâm nhập vào văn hóa Ấn Độ, thần thoại Ấn Độ mới có thể hiểu sâu văn hóa dân gian, văn học dân gian Việt Nam.
Bởi lẽ cái ôm trùm lên cả hai, lại chính là văn hóa, là trí tuệ, là tâm linh, tình cảm có cùng nguồn cội và bản sắc phương Đông, dẫu có cách biệt về địa lý mà vẫn rất gần nhau, để có thể soi sáng cho nhau. Cùng lúc hoặc tiếp đó, vào nửa đầu những năm 70, khi đối tượng văn học dân gian đang được tổng kết, anh lại buộc phải (hoặc có dịp) trổ ra một khu vực mới để trở lại đối tượng Đông Nam Á - lịch sử và văn hóa, là đối tượng anh tiếp tục được giao để chiếm lĩnh ở tư cách Trưởng Ban Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học xã hội. Cái chức trách này đến với anh lúc nào đó tôi không thật rõ, bởi vẫn còn trong tâm thế bâng khuâng khi cầm cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam trong tay với lời anh đề tặng ngày 30-12-1974. Cho đến lúc ấy, trước khi anh mất mấy tháng tôi vẫn nghĩ anh là người chuyên sâu, là chuyên gia hàng đầu về văn học dân gian Việt Nam.
Nhưng sự thật thì anh đã nhận trách nhiệm Trưởng Ban Đông Nam Á được vài năm rồi. Công việc của một Ban - tiền thân của một Viện đã được triển khai. Lại một chu kỳ mới, cho một khái quát mới; và lần này, với riêng anh, tôi nghĩ hẳn không cần đến mười năm. Bộ sách ấy có tên Lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Từ Tìm hiểu thần thoại Ấn Độ, qua Người anh hùng làng Dóng, Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam đến Lịch sử Phật giáo Việt Nam - đó là con đường vươn đến sự chiếm lĩnh có tầm tư tưởng và triết học, trước cùng một đối tượng văn hóa dân tộc và văn hóa phương Đông, đang hiện lên thật hấp dẫn, đối với nhiều người trong chúng ta kể từ cuối thế kỷ XX. Cái đối tượng chiếm lĩnh mà Cao Huy Đỉnh là một trong số ít người đã có công chuẩn bị cho nó, người đã ra đi quá sớm cách đây ngót một phần ba thế kỷ.
Cuối cùng tôi lại xin phép trở về với một vài kỷ niệm riêng của đời tư. Dân trí thức xứ Nghệ chúng tôi không mấy ai giàu. Lại thường có thêm một gánh nặng đại gia đình. Thường thì suốt cả tuổi trung niên lập nghiệp họ đồng thời là điểm tựa cho cả đại gia đình. Anh Đỉnh cũng không là ngoại lệ.
Cho đến năm 1975 tất cả chúng tôi trong cơ quan đều sống trong cảnh nghèo. Phải hơn hai mươi năm sau mỗi chúng tôi mới được biết đến cảnh sống tạm no đủ. Những ngày sau Tết 1975 khi anh đã vào bệnh viện, và tình hình đã thật nguy cấp anh mới có được miếng ăn ngon. Chúng tôi nhớ, tiêu chuẩn ngoại hạng của anh lúc ấy, theo đặc ân của Giáo sư Tôn Thất Tùng là mỗi ngày một cái đùi gà hầm thật mềm cho thành xúp. Nhưng đến lúc này thì anh đã không còn ăn uống gì được nữa. Một chuyến xe cho anh đi dạo và ngắm cảnh quan Hà Nội, xuất phát từ Bệnh viện Việt Đức, vòng qua Bờ Hồ rồi xuyên lên Hồ Tây, vào cái thời tất cả chúng tôi chỉ có thể chở nhau bằng xe đạp, sau hai cuộc sơ tán, đến lúc này anh mới được hưởng thì cũng là quá muộn.
Chưa có chức danh gì cho anh lúc bấy giờ, ngoài chức danh Trưởng Ban, mà với nó, đáng lẽ anh được hưởng bậc lương Chuyên viên 2 - 116 đồng; nhưng anh đã nhường suất lương đó cho một bạn đồng nghiệp để chỉ vẫn nhận bậc Chuyên viên 1 - là 105 đồng. Đến bây giờ nghĩ lại vẫn còn chưa hết xót xa. Do chưa phải là Chuyên viên 2, nên mọi chế độ xin cho anh sau khi qua đời là rất khó - khó từ cái tin Cáo phó phải viện ra rất nhiều lý do mới có thể được đưa lên báo Nhân dân
Trở lại với Tháng Tư hàng năm, vào ngày giỗ anh, những năm gần đây, chúng tôi thường đến Thanh Xuân Bắc thắp hương cho anh. Cũng là dịp đến thăm chị Từ Thị Cung và cháu Hồng Minh. Và lần nào cũng vậy, biết bao là nghĩ ngẫm cho một cuộc ra đi quá sớm của anh ở tuổi 49 vào cái thời đất nước đang đi đến tận cùng những hy sinh và khó khăn; và mọi gánh nặng của đời anh đành để lại cho chị Cung. Những điều nghĩ ngẫm không dễ nói ra; mà chỉ dành để nói những chuyện vui. Lúc thì là chuyện nghề nghiệp, về những cuốn sách của anh mới được in, rồi được tái bản. Lúc thì là những săn sóc mà cơ quan cũ của Hồng Minh dành cho cháu; từ ngày cháu được nghỉ mất sức; những món quà chúng tôi mang đến được cháu thích thú. Rồi những chuyện cũ thời sơ tán, hoặc thời anh chị còn ở Ngõ Hạ Hồi chung với gia đình nhà ngoại... để so với căn hộ mới được chữa lại, có gian tiếp khách với một nửa dành cho bàn thờ anh lúc nào cũng đầy bánh trái, hoa quả. Mỗi lần giỗ như thế còn là dịp để mấy anh chị em quen biết nhau cùng cơ quan Mẹ (tức Viện Khoa học xã hội) có một dịp để gặp gỡ, trò chuyện.
Không thể nói trước những gì còn diễn ra; nhưng những gì gọi là thử thách cao nhất cho một đời người, thì đã đến rồi. Anh đã không vượt được bệnh tật cách đây 30 năm. Còn chị thì đã rất kiên cường trụ vững trong những trách nhiệm anh để lại, trước thì vì chồng và gia đình nhà chồng, bây giờ thì cho con; đứa con cả hai bố mẹ đều rất chiều, và bây giờ thì dồn lại cho một mình chị. Chỉ cần biết chuyện chị chăm nom và lo nghĩ cho Hồng Minh ra sao thì mới thật thấu hiểu đến cùng thế nào là nỗi lòng người mẹ! Nếu có một niềm tin làm điểm tựa cho 30 năm đã qua và từ nay trở đi thì đó là: Anh Đỉnh vẫn hiện diện trong lòng gia đình, đồng nghiệp và bè bạn. Anh không mất đi trong lòng người sống. Đã 30 năm rồi, không lúc nào tôi không nhớ như in cái điều anh thường dặn đi dặn lại vợ tôi là Vân Thanh, người thường xuyên vào bệnh viện chăm sóc anh, cùng với chị Cung:
“- Vân nhớ, bảo với Phong Lê làm việc vừa vừa thôi. Cần nghỉ ngơi! Giữ sức mà làm việc lâu dài, chứ đừng cố như mình!..”. Anh có ý tránh nói đến cái điều khủng khiếp nhất!
Tôi đinh ninh lời anh dặn. Nhưng sao mà chữa được bệnh tham làm? Trời cho có sức, và còn sức thì cứ làm. Biết và điều chỉnh được bản thân một cách tuyệt diệu may ra chỉ có một người - đó là Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Hai ông đồ Nghệ, một ông khỏe bỗng dưng đột ngột mất ở tuổi 49; một ông yếu, chịu rất nhiều bệnh mãn tính, vẫn kéo dài một sự sống tinh thần cường tráng, minh mẫn cho đến tuổi 85 - cả hai đều thuộc số người tôi rất yêu mến và kính trọng./.