Thanh Hải – tiếng thơ trung kiên của một thế hệ trong năm tháng chia cắt (Phần 2 và hết)

Thơ Thanh Hải phát triển theo đà trưởng thành của cách mạng miền Nam. Sau Những đồng chí trung kiên, ông có tiếp Huế mùa xuân, Dấu võng Trường Sơn. Dễ nhận thấy đề tài thơ ông mở rộng. Có thể tìm một dấu nối với giai đoạn thơ trước đó bằng mấy bài thơ ông viết trong dịp cùng Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc năm 1962, sau một cuộc hành trình dài thăm nhiều nước bạn.
Nhà thơ Thanh Hải chụp với Bác Hồ. Ảnh: Internet
Nhà thơ Thanh Hải chụp với Bác Hồ. Ảnh: Internet

Kể thật “trớ trêu”, cảnh gặp nhau của những người con cùng một mẹ, của anh em cùng một nhà trong đằng đẵng của thời gian và cách biệt về không gian, qua một lộ trình vòng vo, nó thực sự là sản phẩm đau xót của một thời:

Tám năm nay mới gặp nhau
Ôm nhau mà thấy lòng đau chín chiều

Xa nhau chỉ một mái chèo
Mà đi trăm núi vạn đèo đến đây.

(Tám năm nay mới gặp nhau)

Nhà thơ nói giản dị mà đúng tình cảm của mỗi người chúng ta lúc đó: Niềm vui không ngăn nổi nước mắt, niềm vui đến thật rồi mà vẫn ngỡ như trong mơ, cứ phải không thôi động viên, nhắc nhủ:

Cười lên nước mắt rưng rưng
Cười lên hoa vẫy giữa rừng cờ bay
Tám năm mới có hôm nay
Hôm nay có bởi ngàn ngày đứng lên
Cười lên anh hỡi cười lên

Ngăn sông - ta vẫn đến bên nhau rồi.

Đây là mạch thơ tiếp nối tự nhiên mạch thơ “vượt tuyến” trước đây, Thanh Hải nói hộ tâm sự những người mẹ, người vợ, người em, người chị bên kia Hiền Lương. Mảng thơ này rồi còn được tiếp tục trong những bài Thanh Hải viết về “tiếng gà trên giới tuyến”, về Quảng Bình, về những cánh bay của không quân trẻ tuổi, và nhất là về Bác Hồ..., để nói lên mối tình gắn bó giữa hai miền, và niềm tin vào miền Bắc xã hội chủ nghĩa - chỗ dựa vững chắc của cách mạng miền Nam.

Miền Nam sau đồng khởi chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới, dữ dội không kém, nhưng là thời kỳ nhân dân được trực tiếp cầm súng, nên mang một khí thế khác: Có chiến thắng từng lúc và từng phần; có vùng hậu địch và vùng giải phóng; có đấu tranh ở thành nội; và có cuộc sống mới ở chiến khu; có một dải Trường Sơn làm chỗ dựa; và đặc biệt có một Tổng tấn công và 25 ngày giành lại cố đô năm 1968, để 7 năm sau có Đại thắng mùa Xuân giành trọn vẹn Độc lập - Tự do...

Qua Huế mùa xuân và Dấu võng Trường Sơn, Thanh Hải cho ta thấy hình ảnh một cuộc chiến đấu đã đi vào bình thường; cũng có nghĩa là cho thấy dân tộc ta sẵn sàng một tư thế ung dung, tự tin, và có đủ tiềm lực vật chất và tinh thần để chiến đấu dài lâu. Kể chuyện, vẫn là phong cách quen thuộc ở Thanh Hải. Theo chân người cán bộ trên đường đi công tác, ông kể chuyện sinh hoạt ở chiến khu, ở vùng ven, hoặc thành nội... Bên anh cán bộ và người mẹ vốn là những hình ảnh quen thuộc, đã có thêm nhiều khuôn mặt khác: O du kích, chị dân công, em giao liên, anh Giải phóng quân, người vót chông mù, rồi lại con gái người du kích, chuyện dựng cầu và những người làm cầu...

Nhiều khuôn mặt, và do đó cuộc sống có thêm âm điệu. Bên o du kích
Triệu Phong:

Kể chi eng! Chuyện thì dài
Ăn bờ, ngủ bụi em nài chi mô
Cơm dù bữa đói bữa no
Hễ nghe có giặc em lo đi liền

Có tiếng hát của cô văn công - cô gái Trà My:

Hát đi em đời ta lắm cực nghèo
Thiếu muối, thiếu cơm, nhưng giàu tiếng hát
Quân thù dội bom buôn làng xơ xác
Ta hát kiên cường, hát những niềm tin.

Bên chuyện đất đai, năm tháng, có chuyện đời thường ở miền quê giải phóng, hoặc trên dọc ngang những nẻo Trường Sơn: Suối nước, hoa rừng, bãi khách, dấu võng thân cây...

Hương rừng, vị biển, sắc đất, màu trời... càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong thơ Thanh Hải, đem lại một sự tươi mát cho thơ, và như để bù lại cái phần khắc khổ của đời sống chiến đấu; đồng thời đó cũng là tiếng nói khẳng định sức sống bền dai ở con người. Đối tượng thơ mở rộng, không khỏi làm thay đổi ít nhiều cách phô diễn quen thuộc ở Thanh Hải. Bên cạnh nét chân, mộc trong cách kể, để nói chuyện Cọc cắm đầu lâu - cây chông tre - cán cờ, Chiến thắng A So, Tiếng gà trên giới tuyến, Giặc Mỹ đến làng em, Về làng cũ, Câu chuyện đầu xuân... đã thấy xuất hiện một cách nói ít nhiều uyển chuyển, duyên dáng, gợi nhiều hơn kể:

Ôi cơn sóng dựng lên rồi cơn sóng
Gió ù ù - một trận bão không tên
Cơn sóng trắng - màu cát vào trận đánh
Bão không từ biển Đông vào - bão từ sóng quê hương.

Hướng sâu hơn vào suy nghĩ:

Lòng người vậy đã hóa thành trận đánh
Bên giặc là thù, bên mến là ta

Cần giữ đất, mẹ hóa thành khẩu súng
Xe địch vào, tay trắng cũng xông ra...

(Khúc ca Cửa Việt)

Có điều dễ nhận là, dẫu vậy, sau Những đồng chí trung kiên, đến Huế mùa xuân, Dấu võng Trường Sơn, thơ Thanh Hải không còn có được sức hấp dẫn, vẻ lạ của hồi đầu. Một giai đoạn mới của cách mạng, với những yêu cầu khác và cao hơn của nó, sự xuất hiện một đội ngũ mới gắn với tuổi đời sung sức và cảm xúc tươi trẻ hồn nhiên ở họ - với những Nguyễn Khoa Điềm, Vũ Ngàn Chi, Trần Vàng Sao... và vào sâu hơn phía trong là Thu Bồn, Dương Hương Ly, Lê Anh Xuân... sẽ là đối tượng mới thu hút sự chú ý của chúng ta. Thanh Hải vẫn có tiếng thơ riêng. Nhưng tiếng ông lẫn đi trong tiếng của nhiều người; hay nói đúng hơn, tiếng ông có bị chìm đi. Có lẽ do sự bồi đắp ở ông cho giọng điệu thơ thật rõ nét và có thêm sức vang ngân chưa thật khỏe; bên cạnh đó, những đổi mới cần thiết làm cho thơ có được sự biến hóa, đa dạng hơn, gây được ngạc nhiên, còn bị giới hạn, còn chưa đủ độ, nếu không nói là vẫn còn trên những nẻo thơ quen thuộc cũ. Chân - mộc, nhưng đôi khi quá thật thà - ở những chỗ ấy chất thơ Thanh Hải mất mát rất nhiều, thậm chí rơi vào lời chữ thường. Ở những chỗ dường như ai cũng có thể nói được và do vậy, ai cũng tránh nói, ông lại phô bày hơi cặn kẽ. Có nhiều những bài, những đoạn như vậy, là một cái thiệt, nó gây nên ấn tượng nhàm và che khuất những đoạn thơ hay.

Cũng cần nói thêm chút ít về ảnh hưởng Tố Hữu đối với Thanh Hải. Cả Tố Hữu và Thanh Hải đều là con của xứ Huế, đều có chung một nguồn ảnh hưởng văn chương truyền thống và dân gian. Sẽ không có chuyện bàn nếu sự tiếp nhận ảnh hưởng một nhà thơ khác là để làm phong phú thêm bản lĩnh riêng, cốt cách riêng của mình. Điều hơi đáng tiếc ở Thanh Hải là sự ảnh hưởng đôi khi có dáng một kiểu bắt chước. Chẳng hạn cách nói quen thuộc của Tố Hữu, như “Hãy lấy em nghe...”, “Có phải vì ta không em nhỉ”, “Tôi ngắm mãi...”, “Ôi những ngày xưa...” lặp lại hơi nhiều trong thơ ông.

Nhà thơ vào tuổi năm mươi, mà cả tuổi đời thơ ấu và thanh niên gắn với cuộc chiến đấu ở Trị Thiên, sau chiến thắng 1975, lại trở về bám chặt địa bàn quê hương mình. Những dự định mới của ông: Làm thơ về cuộc sống xây dựng, viết tiếp trường ca Những đồng chí trung kiên, soạn kịch thơ lịch sử Vó ngựa Hoa Lư đang còn sôi nổi. Thế nhưng ông đã sớm ra đi, ở tuổi chẵn 50, năm năm sau ngày đất nước thống nhất./.

 

GS. Phong Lê