
Một hiện tượng có vẻ ngẫu nhiên khiến tôi lưu tâm nhiều nhất, bởi có liên quan đến cá nhân, đó là: Hoàng Trung Thông về Viện và nhận chức trách Viện trưởng đúng ở tuổi 50. Cũng như trước đó, ông Hoài Thanh về Viện ở tuổi chn 50. Tuổi 50, qua quan sát hai bậc thầy và bậc anh là Hoài Thanh và Hoàng Trung Thông, tôi thấy họ rất năng động, vừa đủ độ chín, vừa vẫn có sự nhanh nhẹn, trẻ trung. Hoài Thanh hàng ngày đi xe đạp từ 10 Nguyễn Thượng Hiền - bên kia Hồ Thuyền Quang, đến 20 Lý Thái Tổ. Còn Hoàng Trung Thông thì đi bộ từ 70 Ngô Quyền đến Viện. Thời “8 giờ vàng ngọc”, thời “mỗi người làm việc bằng hai”, thời hoạt động nhịp nhàng của “bộ tứ”: Đảng, Chính quyền, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, lãnh đạo phải có ý thức làm gương. Về phần tôi, được bầu và cử vào chức trách Viện trưởng đúng ở tuổi 50, do biết mình thuộc thế hệ hậu sinh nên luôn luôn có ý thức phấn đấu theo gương hai vị tiền bối, để không lúc nào được phép mệt mỏi, và đòi hỏi.
Còn một điều đáng lưu ý khác. Cả ba đều là người xứ Nghệ, và đều có một thời điểm không bình thường. Ông Hoài Thanh chuyển cơ quan năm 59 tuổi, ông Thông về hưu đúng tuổi 60, còn tôi - thôi Viện trưởng ở tuổi 57.
Với tôi, Hoàng Trung Thông là bậc đàn anh trong nghiệp nghiên cứu và mười năm là thủ trưởng của tôi. Nhưng trong tôi, ông luôn luôn là một nhà thơ. Tôi không muốn tách hai tư cách này ở ông, bởi với ông, cả hai là không bài trừ nhau mà bổ sung cho nhau. Tuy không phải là người thuộc nhiều thơ ông - vì thơ ông nhìn chung không dễ thuộc, nhưng tôi vẫn cảm nhận được rõ ràng về ông như nhiều người. Đó là một hồn thơ chân chất, khỏe khoắn, chắc nịch, mà chỉ riêng tên quyển, tên bài đã nói lên điều đó: Bài ca vỡ đất, Quê hương chiến đấu, Đường chúng ta đi, Trong gió lửa... Việc xác định một giọng điệu riêng cho thơ ông quả là không khó lắm. Với Hoàng Trung Thông, bất cứ lúc nào, bạn đọc cũng đều có chung một liên tưởng. Đó là nhà thơ của Bài ca vỡ đất, nhà thơ của câu thơ:
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
Thế nhưng, với tôi, Hoàng Trung Thông không chỉ là một tiếng thơ rắn rỏi. Không phải chỉ là tiếng nói của lý trí, theo lối tam đoạn luận. Mà đôi lúc còn là một tiếng thơ mềm của cảm xúc, của những bâng khuâng với rất nhiều lưu luyến trong tình người. Tôi nhớ lần đầu tiên được ngạc nhiên về thơ ông, là năm 1962, khi được đọc chùm thơ ông viết về vùng cao, trong đó có bài Chợ Cô Sầu:
Chợ Cô Sầu
Chẳng có ai sầu
Khăn thêu thổ cẩm, vải khoe màu
Người đi trẩy hội hay đi chợ?
Anh đợi em hoài em ở đâu?
Chợ Cô Sầu
Chẳng có ai sầu
Gà vịt nhiều hơn khoai với nâu
Nón tre, túi vải, người như nước
Anh đợi lâu rồi em đứng đâu? (...)
Chợ Cô Sầu
Lất phất mưa bay
Đừng sợ đường trơn anh dắt tay
Áo chàm ai nhuộm mà xanh thế
Không rượu nhưng lòng vẫn cứ say.
Mạch thơ này còn được ông tiếp tục trong nhiều năm sau, với Thu Sapa:
Gió rét chớm về đào mạn hết
Người Mèo xuống phố bán dầu gia
Sapa một góc trời thu đẹp
Rừng sa mu đứng gội mù sa
Trở lại với Chợ Cô Sầu. Đây là những khổ thơ thật hay, bởi nó đến được với cái say, cái mê đắm của tình người, tình đời. “Anh đợi em hoài”, và “Anh đợi lâu rồi” - một chữ hoài ngọt lịm. Và “Em ở đâu?”, rồi “Em đứng đâu?” với biết bao là khắc khoải! Chuyện thơ vô tư mà cứ như là chuyện của một đôi bạn tình giữa bâng khuâng đất trời Trùng Khánh - Cao Bằng. Tôi cứ muốn hình dung nhà thơ ở tuổi 37 còn rất trẻ đang mong và mừng đón một cơn mưa lất phất, với đường trơn để được dắt tay một thiếu nữ Hmông hoặc Dao đỏ, hoặc Sán dìu váy hoa sặc sỡ và ô dù loè xoè trên đường xuống chợ. Chợ Cô Sầu xứng đáng đứng bên những bài thơ hay nhất của Huy Cận, Xuân Diệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên... vào những năm mở đầu thập niên sáu mươi (thế kỷ XX) miền bắc lâng lâng đi vào cái duyên đầu với chủ nghĩa xã hội: “Có gì đẹp trên đời hơn thế. Người yêu người sống để yêu nhau” (Tố Hữu: Bài ca mùa xuân 1961).
Một thứ men say như rượu, hoặc rượu với men say của nó, đã xuất hiện trong Chợ Cô Sầu năm 1962. Cái say vừa độ cho con người nhìn cuộc đời trong lung linh của niềm vui và vẻ đẹp trữ tình. Vài chục năm sau, rượu sẽ xuất hiện ngày một nhiều hơn trong thơ Hoàng Trung Thông. Nhưng khi cái say là thường xuyên, là triền miên, không còn là vừa độ thì nhà thơ sẽ không còn thấy gì ngoài mình với cái bóng của mình. Nếu có một cái gì của ngoại cảnh thường gây ám ảnh đối với người thơ lúc này thì đó là Trăng. Người thuộc thơ Đường, mê Đỗ Phủ và Lý Bạch là Hoàng Trung Thông lại càng hay nghĩ đến Trăng. Trăng sẽ tràn ngập trong thơ ông ba mươi năm sau, và người đi “vỡ đất” năm mươi năm trước cùng với đoàn nông binh áo vải, bây giờ đã thành một ông cụ với râu tóc lòa xòa bạc trắng, một mình cầm chén “mời trăng” trong cô đơn ở tuổi chưa đến bảy mươi.
Trở lại với những vần thơ mang cốt cách Hoàng Trung Thông, tôi lại nhớ đến bài Trưa ở Hưng Long. Đây là bài ông làm trong dịp cùng ba cán bộ Viện Văn học, trong đó có tôi, làm một chuyến hành hương về xứ Nghệ, vào cái thời xứ này có khẩu hiệu “sắp xếp giang sơn” của ông Trương Kiện. Về vào giữa mùa hè chói gắt, chúng tôi đã ở lại Hưng Long một trưa - cái trưa sau này đã vào thơ ông hệt như một bức sơn dầu với những mảng màu thật vạm vỡ:
Buổi trưa Hưng Long dừa đọng nắng
Lửa trải gay gắt trên sân phơi
Trang lạc trang thóc mình ướt đẫm
Lạc với thóc nhiều hơn mồ hôi
Buổi trưa Hưng Long trời trong veo
Gió thổi lá bay vào trước ngõ
Cá đang quẫy mạnh dưới chân bèo
Nóng quá cả lên tìm ít gió
Từ Hưng Long trở về Vinh, chúng tôi đi tiếp vào Hà Tĩnh. Ở Hà Tĩnh, ông bị lên một cơn huyết áp cao, phải cấp tốc đưa ra bệnh viện Vinh; và tôi nhớ, mọi người đều rất lo lắng bởi huyết áp ông lên đến 180/250.
Sau này bệnh huyết áp không rời ông. Nhưng điều kỳ lạ là, với trạng thái huyết áp như ông, nếu là người khác thì đã rất sớm xảy ra tai biến rồi. Nhưng với ông, thành mạch thật dẻo dai. Trong đồng hành với rượu và trong chống chọi với bệnh tật ông vẫn là một nông binh bướng bỉnh. Có dễ trên hơn mười năm trước khi mất, ông không rời rượu. Dẫu có bệnh hiểm, và dẫu sức khỏe xuống trông thấy, ông vẫn uống rượu đều, thường xuyên, không nhiều, nhưng chóng say. Cho đến lúc này, khi chưa vào ngưỡng 70, chỉ còn rượu và thơ là bạn của ông. Rượu tỏa men vào thơ, còn thơ là hình ảnh ông với rượu và ông trong rượu.
Không phải chỉ lúc ấy, mà cho đến bây giờ, khi tôi viết bài này, tôi vẫn chưa giải thích được cái câu hỏi vì sao, một người như ông lại tìm đến rượu, và quyết không bỏ rượu, hoặc không thể bỏ được rượu?