Chuyên gia: Khơi thông nguồn lực để văn hóa trở thành sức mạnh mềm quốc gia

Với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng sáng tạo, hai phiên chuyên đề “Khai thông nguồn lực để phát triển công nghiệp văn hóa” và “Bứt phá phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số” đã tập trung vào những nút thắt và dư địa phát triển của công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo các Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, lãnh đạo Sở VHTT TP. Hồ Chí Minh, Hội Nhà báo Việt Nam và nhiều chuyên gia, nhà khoa học. Hội thảo do Báo Văn Hóa phối hợp với Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 6/6, tại TP. Hồ Chí Minh.

Tiến sỹ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa nhấn mạnh, việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đang đặt ra yêu cầu mới đối với tư duy phát triển công nghiệp văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ.

bqex-1780732395.jpg
PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương chia sẻ tại phiên thảo luận. Ảnh báo Văn hóa.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Anh Vũ, Hội thảo “Triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW – Phát triển công nghiệp văn hoá trong kỷ nguyên số” diễn ra vào thời điểm đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như khả năng thích ứng trước những biến động nhanh chóng của thời đại số.

Đáng chú ý, công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những hướng đi quan trọng nhằm chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển, từng bước trở thành ngành kinh tế có đóng góp thiết thực vào tăng trưởng, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Dù dư địa phát triển rất lớn, công nghiệp văn hóa Việt Nam vẫn đứng trước nhiều nút thắt. Thể chế, nguồn vốn, hạ tầng số, thị trường bản quyền và khả năng đưa sản phẩm sáng tạo ra thị trường vẫn là những bài toán chưa dễ giải. Bên cạnh đó, sự thiếu kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu, doanh nghiệp và nhu cầu thực tiễn khiến nhiều nguồn lực văn hóa chưa phát huy hết giá trị, chưa tạo được sức bật tương xứng cho tăng trưởng.

PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, Việt Nam có nhiều cơ sở để sẵn sàng cho sự phát triển mạnh mẽ hơn của các ngành công nghiệp văn hóa.

Theo PGS, lợi thế đầu tiên là nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, đa dạng, được tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành các sản phẩm văn hóa mang bản sắc riêng. Việt Nam đang ở giai đoạn có cơ cấu dân số vàng. Lực lượng lao động trẻ, đặc biệt nhóm tuổi từ 15-35 tuổi, chính là lực lượng sáng tạo chủ lực của các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là nguồn nhân lực giàu năng lượng, nhanh nhạy với công nghệ và sẵn sàng tiếp nhận những xu hướng mới.

Ngoài ra, sự phát triển của hạ tầng công nghệ và quá trình chuyển đổi số trong những năm gần đây cũng mở ra nhiều cơ hội để các sản phẩm văn hóa tiếp cận công chúng rộng hơn, vượt qua những giới hạn truyền thống về không gian và thời gian.

lam-nhan-1780732460.jpg
PGS.TS. Lâm Nhân chia sẻ về định hướng đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa. Ảnh báo Văn hóa.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, việc có lợi thế không đồng nghĩa với việc tự động tạo ra sự bứt phá. “Chúng ta đang ở trạng thái sẵn sàng nhưng chưa thực sự tạo được cú hích”, bà nhận định. Điều khiến công nghiệp văn hóa chưa phát triển tương xứng với tiềm năng nằm ở những điểm nghẽn về thể chế và cơ chế vận hành. Theo chuyên gia, sức sáng tạo hiện nay tập trung chủ yếu trong cộng đồng sáng tạo và giới trẻ, nhưng hệ thống chính sách vẫn chưa thực sự theo kịp để tạo điều kiện cho nguồn lực này phát huy hết khả năng.

Một thực tế được bà chỉ ra là trong khi nhiều lĩnh vực như giao thông, y tế hay giáo dục đã hình thành những cơ chế đầu tư tương đối rõ ràng thì đầu tư cho văn hóa vẫn còn nhiều lúng túng. Không chỉ là câu chuyện thiếu nguồn lực, vấn đề còn nằm ở việc sử dụng nguồn lực như thế nào để hiệu quả.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, cần giải quyết bài toán phân bổ nguồn lực hợp lý giữa khu vực công và khu vực tư; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để các cá nhân, doanh nghiệp sáng tạo có thể tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển công nghiệp văn hóa.

Một điểm nghẽn khác được Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam đề cập là chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, hệ thống giáo dục, đào tạo và nghiên cứu về công nghiệp văn hóa ở Việt Nam vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển. Nhiều lĩnh vực còn thiếu đội ngũ giảng viên, chuyên gia được đào tạo bài bản, dẫn tới khoảng trống trong đào tạo nhân lực chất lượng cao.

“Muốn tạo ra thay đổi, phải đầu tư cho nguồn nhân lực, cho giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn. Đây là điều kiện rất quan trọng để hình thành đội ngũ sáng tạo trong tương lai”, bà Nguyễn Thị Thu Phương nhấn mạnh.

huyquang-1780732541.jpg
Tiến sỹ Phạm Huy Quang, Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP. HCM chia sẻ một số khó khăn trong công tác đào tạo. Ảnh báo Văn hóa.

PGS.TS. Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP. HCM cho biết, trường không chỉ đào tạo ngành quản lý văn hóa mà còn đào tạo nhiều lĩnh vực thuộc hệ sinh thái công nghiệp văn hóa như du lịch, bảo tàng, xuất bản, phát hành, truyền thông văn hóa...

Theo ông, chương trình đào tạo hiện nay vẫn được rà soát, cập nhật thường xuyên. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của công nghệ số khiến việc cập nhật kiến thức trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

“Công nghệ hiện nay thay đổi từng tháng, thậm chí từng tuần. Trong khi chương trình đào tạo dù có cải tiến thường xuyên cũng khó có thể theo kịp hoàn toàn tốc độ phát triển đó”, PGS.TS. Lâm Nhân cho biết.

Chính vì vậy, nhà trường đang chuyển mạnh sang định hướng đào tạo khả năng thích ứng thay vì chỉ cung cấp kiến thức chuyên môn thuần túy.

Theo ông Lâm Nhân, điều quan trọng nhất hiện nay là hình thành cho sinh viên tư duy đổi mới, tư duy cập nhật và tinh thần học tập suốt đời. Đây sẽ là nền tảng để người học có thể tự làm mới mình trước những thay đổi liên tục của thị trường lao động.

Cùng với chương trình đào tạo chính khóa, nhà trường cũng tăng cường các khóa tập huấn chuyên đề với sự tham gia của chuyên gia, doanh nghiệp và những người đang hoạt động thực tiễn trong ngành.  “Đào tạo thích ứng là hướng đi bắt buộc nếu muốn thu hẹp khoảng cách giữa nhà trường và thực tiễn”, PGS.TS Lâm Nhân nhấn mạnh.

Tiến sỹ Phạm Huy Quang, Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP. HCM cho rằng, hiện nay điện ảnh và sân khấu Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều sân khấu tại TP. HCM luôn trong tình trạng kín khán giả, trong khi điện ảnh Việt Nam những năm gần đây cũng gia tăng đáng kể thị phần trong nước.

Tuy nhiên, ở những sân chơi quốc tế lớn, nghệ thuật Việt Nam vẫn còn khoảng cách nhất định. “Chúng ta cần cạnh tranh ở những lĩnh vực cao hơn như các liên hoan phim quốc tế lớn hay các đấu trường nghệ thuật chuyên nghiệp trên thế giới”, Tiến sỹ Phạm Huy Quang nói.

Để làm được điều đó, yếu tố quyết định vẫn là con người.

1-1768989643994585851900-0-295-1661-2953-crop-1768989702852386861235-1780732629.webp
Ảnh minh họa, nguồn báo Phụ nữ Việt Nam.

Theo Tiến sỹ Phạm Huy Quang, một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là việc mời nghệ sĩ tham gia giảng dạy trong các cơ sở đào tạo nghệ thuật.

Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP. HCM cho rằng, thực tế cho thấy sinh viên rất cần được học từ những nghệ sĩ có nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, quy định hiện hành yêu cầu giảng viên đại học phải có trình độ từ thạc sĩ trở lên, trong khi nhiều nghệ sĩ nổi tiếng có được danh hiệu nghề nghiệp mà đôi khi không có học vị phù hợp theo quy định.

“Về hiệu quả đào tạo thì nghệ sĩ có thể mang lại rất nhiều giá trị thực tiễn cho sinh viên. Nhưng về mặt quy định, việc sử dụng nghệ sĩ trong giảng dạy vẫn còn gặp khó khăn”, ông chia sẻ.

Bên cạnh đó, nhiều ngành đào tạo mới đang rất cần thiết cho thị trường lao động nhưng khó mở do không đáp ứng yêu cầu về đội ngũ giảng viên trình độ tiến sỹ.

Theo Tiến sỹ Quang, các lĩnh vực như sản xuất phim, lý luận phê bình điện ảnh hay lý luận phê bình sân khấu đều đang thiếu nhân lực, song việc mở ngành đào tạo mới vẫn gặp nhiều trở ngại.

Từ thực tiễn đào tạo, Tiến sỹ Phạm Huy Quang cho rằng việc xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa không thể chỉ bắt đầu từ bậc đại học.

Tiến sỹ Quang đề xuất cần đưa nghệ thuật đến gần hơn với học sinh ngay từ bậc phổ thông thông qua các chương trình như điện ảnh học đường, sân khấu học đường. Khi trẻ em được tiếp xúc với nghệ thuật từ sớm, các em sẽ hình thành khả năng thưởng thức và tình yêu đối với văn hóa nghệ thuật, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài.

Thu Thảo (t/h)