Cuộc sống và hiện thực trên trang viết Nguyễn Thi

Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Thi, cuộc sống hiện lên như một nguyên khối dữ dội, gai góc và không che giấu xung đột. Từ Ở xã Trung Nghĩa đến Những đứa con trong gia đình, ông khắc họa con người miền Nam trong đấu tranh, nơi cái bình thường hóa thành anh hùng, và hạnh phúc chỉ đến khi con người được tự mình làm chủ số phận.
tac-pham-nhung-dua-con-trong-gia-dinh-1765707622.jpg
Những đứa con trong gia đình – tác phẩm tiêu biểu thể hiện chiều sâu nhân bản và nghệ thuật kết cấu của Nguyễn Thi. Ảnh: Internet

Với Nguyễn Thi, cuộc sống là nguyên khối, trong tất cả cái vẻ xù xì, góc cạnh, thô nhám, trần trụi của nó. Ông không e ngại, không né tránh những tương phản, trái ngược, giao tranh, xung đột... luôn được đẩy đến giới hạn cuối cùng. Cuộc sống của những người dân “bảng đen” vào những năm Mỹ Diệm thực hành chính sách “tố Cộng”, trong các ấp chiến lược được chọn làm bối cảnh cho thiên tiểu thuyết còn bỏ dở mà ông chưa kịp đặt tên, sau này có cái tên hiền lành: Ở xã Trung Nghĩa là một cuộc sống như thế. Cảnh ngộ ông Tư Trầm, chị Hai Khê trong truyện có thể xem là sự kết tinh số phận quần chúng đang bị dồn xuống tận đáy của sự bi thảm; qua đấy, tác giả đồng thời cho thấy cả một màn đêm dày nặng của xã hội, mà nơi kết tụ của bóng tối là hai khuôn mặt cùng một bản chất sát sinh của đại diện Hiếm và cảnh sát Âu. Hai nhân vật - đại diện cho chính quyền, với bản chất là những con người thú, nhưng không phải với dáng vẻ gớm ghiếc, ghê tởm thích ăn gan uống máu như nhiều nhân vật phản diện trong các tác giả khác, mà vẫn còn dáng vẻ và khuôn hình người. Nhưng chính với dáng vẻ và khuôn hình người mà cả hai mới gây nên một ám ảnh khủng khiếp đến thế. Nguyễn Thi đã thành công biết bao nhiêu trong hai nhân vật rất giàu tính biểu trưng và rất đậm nét cá tính ấy, nơi một truyện dài còn bỏ dở chỉ khoảng 100 trang, bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, nó là những chữ bằng chì lỏng, nóng chảy và định hình ngay tức khắc khi đổ vào khuôn.

Với Nguyễn Thi, cuộc sống là bao nhiêu dường mối, đường mạch xô đẩy, quấn quýt, xen cài chằng chịt vào nhau, bổ sung cho nhau, tương phản lẫn nhau. Những người dân “bảng đen” như ông Tư Trầm, chị Hai Khê mà cả một bộ máy khổng lồ của Mỹ - nguỵ với súng, gươm tách họ ra, họ vẫn cứ xô giạt, nương tựa được vào nhau. Còn những thế lực thống trị như đại diện Hiếm, cảnh sát Âu, Ba Kỳ, Ba Sồi, Hai Mật vừa nhâng nháo trở về sau bàn tiệc, ngồi bên nhau, bàn tính cùng nhau cách làm ăn, từ việc “xây nhà tôn, mua ghe máy” đến việc cướp từng quả đu đủ, lận từng đồng của người dân lương thiện, trong cái “hồi buổi làm chơi ăn thiệt” này lại sẵn sàng lừa miếng nhau, thọc gậy vào lưng nhau. Một cuộc sống mà “miếng ăn ngay thẳng thì phải làm trong cảnh tối tăm, còn của cướp thì chúng mặc sức làm phơi phới giữa ban ngày như phơi áo”; một cuộc sống mà mỗi người đều phải có “một cái tai riêng để nghe chuyện”, “có thêm một cặp mắt để nhìn cho thấu những sự việc con mắt thường không thấy và thêm một cái miệng nữa để bàn những việc mà thông thường không nói được...”. Một cuộc sống mà bên ngoài là một vẻ an bài, phẳng lặng, được sắp xếp đâu vào đấy, nhưng bên trong, có trời mà biết, nó sẽ nổ tung ra thành từng mảnh vụn vào bất cứ lúc nào. Một cuộc sống thực mà giả, giả mà thực, đang chờ đợi “một phép mầu” để được hoàn nguyên là nó...

Và thế tất là cái phép mầu ấy rồi sẽ đến, và cái sự nổ tung đó phải diễn ra. Nguyễn Thi nói với ta, hạnh phúc đã đến với con người trong đấu tranh - hạnh phúc “cầm súng” - và đấu tranh là con đường duy nhất đưa đến hạnh phúc cho họ. Ông nói với chúng ta về những cuộc lên đường, những cuộc ra đi. Có cuộc ra đi vui như hội, mắt phóng ra phía trước, đầy hào hứng như của ba cô gái trong truyện ngắn Mùa xuân: “Hà đi với lý do là Tết này mình đã mười bảy, không cho mình đi thì mình già, còn gì... Nga lớn kèo xin đi cũng có lý do, là vì anh Ba Nghề, du kích, cứ hỏi ý kiến hoài, mình ở nhà chắc phải tuyên bố mất. Còn Chỉnh thì khoái cầm súng đi cùng trời cuối đất, như các anh bộ đội vậy”. Lại cũng có cuộc ra đi như của hai chị em Việt trong Những đứa con trong gia đình mang hai cái tang trên đầu, diễn ra trong âm thầm lặng lẽ, phải lo tính việc nhà, nghĩ lại về phía sau, ngày qua, người đã khuất... Nhưng dù thế nào, những cuộc ra đi đó, đối với họ, đều là một nhu cầu khẩn thiết, và cái hạnh phúc trong chiến đấu đó luôn luôn tạo nên những trang sôi nổi, xúc động ở Nguyễn Thi. Tuy vậy, đối với Nguyễn Thi, đó lại là một cuộc chiến đấu mà thắng lợi đến với nhân dân không phải một cách dễ dàng và cũng không phải chỉ là công việc của một thế hệ. Nó vẫn còn tiếp diễn khi trang sách đã hết hoặc đang tạm dừng.

Thực ra, đó là điều mà cả người trong cuộc là nhân vật của Nguyễn Thi, và người đọc là chúng ta, không ai không thấy rõ. Nhưng mặc dù vậy, Nguyễn Thi vẫn cứ có thể giúp ta nhìn kỹ thêm, thấm thía hơn. Là vì chẳng bao giờ ông nói điều ấy một cách trừu tượng. Ông để cho nhân vật “nói”. Và cái tiếng nói của hình ảnh mà ông dựng lên trên trang sách ở đây, luôn luôn có sức gợi, làm cho ta xúc động. Ông náu mình sau những câu chuyện bà con Tam Ngãi kể về mẹ con chị Út. “Mẹ con nó dạy nhau cùng một khuôn, con Út kia đi đánh giặc thì lại có con Út nọ ở nhà”. Ông để cho bé Gái - con chị Út, đeo cạc-bin, mắt long lanh, môi chúm chím, quần vo quá gối, đầu súng đưa qua đưa lại, khiến cho mấy bà mẹ phát kêu lên: “Nó giống hệt mẹ nó hai mươi năm trước”. Ông để cho hai bà mẹ trao trầu cho nhau, tâm sự: - “Nghĩ cho ông Cụ Hồ mình khéo nuôi con cháu, năm đình chiến, đám con Chỉnh, Ông Cụ còn gửi kẹo theo tàu vô cho ăn, giờ Ông Cụ đã được nhờ rồi”... Chỉ thế thôi, mà thực ra không cần nói gì thêm, cũng đủ để cho ta hiểu cuộc chiến đấu đang tiếp tục, các thế hệ chúng ta đang nối bước nhau cầm súng như thế nào, và sức trẻ đang lớn lên ra sao.

Thật là thích hợp với Nguyễn Thi, cây bút trữ tình rất mực, khi ông hướng về đám trẻ dẫu có phải già trước tuổi, vẫn không mất đi sự ngây thơ, ngộ nghĩnh; và đến với những khuôn mặt thân yêu của những người vợ và bà mẹ, nó là chất thơ không bao giờ vơi cạn trên các trang viết của ông. Nhưng với Nguyễn Thi, chất thơ đó không bao giờ che khuất hoặc làm mờ đi sự thật dữ dội, khốc liệt của cuộc chiến. Bộ mặt kẻ thù, những mảng đen tối trong đời sống luôn luôn được nhà văn đặt vào đúng vị trí của chúng, khiến cho ta căm ghét và cảnh giác, chứ không phải để cho ta ớn ngợp hoặc kinh sợ; nhưng chính sự có mặt đó đã góp phần cho ta hiểu tính chất cực kỳ gian khổ, ác liệt của cách mạng miền Nam. Cũng như vậy, bằng các trang viết của mình, Nguyễn Thi nói với chúng ta cái niềm vui chưa bao giờ vui đến thế của nhân dân được giải phóng, nhưng sự nghiệp giải phóng nhân dân vẫn còn tiếp diễn. Trong đấu tranh, hạnh phúc vô giá đã đến với con người, khi họ được cầm súng và được tự mình làm chủ đời mình. Nhưng lúc này vẫn chưa phải là lúc con người có thể nghỉ ngơi và hưởng thụ. Tóm lại, đối với Nguyễn Thi, cuộc sống đầy màu sắc, luôn chuyển động, và đang tiếp diễn.

Chính trên bối cảnh một cuộc sống như vậy, Nguyễn Thi giúp ta đi tới những khám phá đúng đắn và sâu sắc về con người miền Nam, con người Việt Nam. Dựng chân dung những nữ anh hùng như Út Tịch, Nguyễn Thị Hạnh, hay hướng tới bất cứ con người quần chúng bình thường nào, Nguyễn Thi không bao giờ mô tả họ trong tình trạng bối rối, mình tự đối lập với mình. Ông đặt họ trong bối cảnh cách mạng, trước những yêu cầu của cách mạng. Bao nhiêu khó khăn đặt ra trước mắt chị Út: Việc nhà, năm con, lại tiếp tục bụng mang dạ chửa... cũng chính là bấy nhiêu hoàn cảnh cho chị bộc lộ tất cả sự dồi dào vô hạn những khả năng và nghị lực của mình. Cũng có thể nói như vậy về Sáu trong Sen trong đồng, về Nguyễn Thị Hạnh trong Ước mơ của đất. Tóm lại, đó là hướng khám phá tính cách con người ở Nguyễn Thi, nhằm làm sáng tỏ một cách tự nhiên, không chút cố ý, cái hiện tượng có thể xem là đặc trưng cơ bản của cuộc sống dân tộc Việt Nam trong chiến đấu: Cái bình thường đã được nâng lên tầm vóc anh hùng, và người anh hùng đã trở thành bình thường, tự nhiên như đời sống vậy.

Nguyễn Thi không băn khoăn quá nhiều về việc đi tìm cho nhân vật của mình một cá tính gì đó đặc biệt, để cho người đọc dễ nhận, mặc dù cái tài đó ông không thiếu. Một Đực Cò “mới mười bảy tuổi, lòng dạ và tác người đều gà tồ, ai hỏi gì cũng cứ “hả” rồi mới trả lời”; một cô Hà, nữ du kích “không hề sợ máy bay bỏ bom mà chỉ lo máy bay nó rớt trúng đầu mình”; một chị Tư, người mẹ trẻ “hiền như chiếc lá”, đi biểu tình cõng con sau lưng để rủi có trúng đạn thì mình chịu trước... Nhưng dường như Nguyễn Thi không muốn người đọc để tâm vào đó quá nhiều. Ông đi thẳng vào những bề sâu, những phẩm chất cơ bản của con người, và khi đã xác định được nét cơ bản đó, ông đem toàn bộ bút lực của mình ra để thể hiện. Đối với ông, con người Việt Nam vốn có một bản chất chung, nhưng biểu hiện của nó lại vô cùng phong phú, không lắp lại, không giống nhau. Trong tùy bút Những câu nói ghi trong Đại hội, ông cho ta thấy cách nhìn ấy; đến với từng anh hùng, ông cố tìm tòi để nắm lấy và thể hiện cho được ngay trong một câu nói, một đặc trưng cơ bản của nhân vật. Chị Út: “Còn cái lai quần cũng đánh!”. Nguyễn Thị Hạnh: “Đừng lo tôi chết. Cứ để tôi ở đây sống với đồng bào”. Tạ Quang Tỷ: “Chân đầu!”. Phạm Văn Cội: “Cứ đánh, trước khó sau quen”. Trương Văn Hoà: “Tìm Mỹ mà diệt”. Kan Lịch: “Đánh gần!”...

Nguyễn Thi cho thấy: Đó là những lời tự nhiên. Nhưng là một cái tự nhiên mà ngẫu nhiên đúc kết toàn bộ một lẽ sống, một tính cách, một phương châm, mục tiêu hành động. Họ nói một cách không cố ý và thật hết sức giản dị những điều dường như đã trở thành chân lý. Nhưng chính vì giản dị mà nó là chân lý. Kan Lịch ham “đánh gần” vì “nổ như vậy chắc trúng, trúng thì nó sẽ chết, nó chết thì nó không bắn lại được mình”. Chị Út cười, miếng trầu còn ở trong miệng: “Ở xã tôi, bót nhiều lắm, mình không giết nó, nó cũng giết mình, nó thu tô”. Rồi chính cái phát hiện đó sẽ là điểm tựa giúp ông dựng lên chân dung của người nữ anh hùng, hơn thế, chân dung của cả một thế hệ những người vợ và bà mẹ mang rất rõ trong mình khí phách của dân tộc, tinh thần của thời đại. Tưởng không nên kể lại - và quả cũng khó mà kể lại - chân dung chị Út “sống” đến mức nào trên tính cách cơ bản đó; cái con người lúc bé ốm nhách đã vung ớt bột vào mặt mụ địa chủ Hàm Giỏi, “đánh nó để nó không đánh được mình”; leo tuốt lên ngọn dừa đái “bi cao” cho biết, kẻo ai đó cứ khinh thường đàn bà con gái đái không qua ngọn cỏ; gan góc nổi tiếng khiến cho các bà mẹ Tam Ngãi phải phát kêu lên: “Không biết nó uống cái toa thuốc gì mà gan trời vậy chớ!”. Tất cả những chi tiết đó qua Nguyễn Thi đều được kết dính, xâu chuỗi vào nhau mà đắp nổi cho hình tượng.

Rõ ràng hiếm có người viết nào chỉ với số trang, số dòng ít ỏi như vậy, lại dựng lên được những chân dung sống như Nguyễn Thi, nó là kết quả của một sự trải đời, hiểu người phong phú biết bao! Đây là thế giới nhân vật Nguyễn Thi, thế giới của con trẻ, của những người mẹ, người chị, những ông bà nội ngoại, những láng giềng, cô bác thân quen đến như là ruột thịt với chúng ta. Nhưng mỗi loại nhân vật đó bao giờ cũng được Nguyễn Thi mô tả nhằm một mục đích nghệ thuật nhất định. Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh trung tâm, và cũng là hình ảnh thành công trong tác phẩm Nguyễn Thi, lại là hình ảnh người mẹ, và là người mẹ cầm súng. Là vì, đối với ông, người mẹ, - người mẹ Việt Nam - luôn luôn lúc nào cũng đều đóng vai trò là chỗ dựa cả về vật chất và tinh thần cho tất cả những đứa con, lớn hoặc nhỏ, gần hoặc xa, trong gia đình hoặc ra ngoài xã hội; là nhân vật có khả năng quy tụ vào mình nhiều mối quan hệ có ý nghĩa, và cũng là gốc sinh ra, là nguồn nuôi dưỡng những tình cảm lớn lao, đằm thắm ở con người. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Thi nói nhiều về thế giới trẻ con, vì chính là bằng vào thế giới trẻ con, những Đực, Binh trong Chuyện xóm tôi, mấy chị em con Bé trong Mẹ vắng nhà, Nguyễn Thi đã có thể nói lên được một cách thật là rung động một thứ chất thơ trong trẻo gắn với một chủ nghĩa lạc quan vô cùng dồi dào trong cuộc sống, đồng thời chứng tỏ cuộc chiến đấu của dân tộc vẫn còn tiếp diễn...

GS. Phong Lê