
Tháng Tư năm 2005, trong niềm vui lớn của dân tộc, đối với tôi, lại có xen một kỷ niệm buồn - đó là cuộc ra đi vào tháng Tư, ở tuổi 49 nghiệt ngã của anh Cao Huy Đỉnh, người đã rất hồi hộp và mong đợi nhưng đã không đến được niềm vui ấy, cách đây chẵn 30 năm. Bệnh viện Việt Đức là nơi chúng tôi chia tay với anh trong những ngày cuối cùng. Anh nằm bất động, chân tay khẳng khiu, nhưng lồng ngực vẫn còn chút phập phồng; và tất cả những người thân ở bên anh, cùng y tá, hộ lý vẫn cố làm những động tác cuối cùng nhồi bóp ở vùng tim để níu lấy sự sống của anh, từng giây, từng phút. Và rồi anh đi hẳn.
Cuốn sách cuối cùng anh còn kịp đề tặng cho bạn bè là cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, trong thời gian anh vào bệnh viện, sau 15 năm công tác ở hai nơi là Viện Văn học và Ban Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học xã hội. Cả hai nơi, anh đều để lại biết bao yêu mến và thương tiếc.
Anh Cao Huy Đỉnh hơn tôi ngót một giáp tuổi. Nhưng chúng tôi vẫn rất gần gũi nhau, trong tư thế bình đẳng và tôn trọng nhau; khiến cho việc viết về anh, nhân việc anh nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh lần thứ nhất - năm 1996, và vào dịp kỷ niệm 70 năm năm sinh của anh, năm 1997, sau ngày anh qua đời, đối với tôi, là có phần dễ dàng. Dễ, vì chúng tôi có thời gian khoảng 10 năm cùng sinh hoạt, cùng công tác với nhau, kể từ ngày thành lập Viện, vào đầu 1960. Tuổi Viện đến nay đã là 45, nhưng 10 năm đầu thành lập là những năm có rất nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ, những kỷ niệm rất đẹp và rất ấm áp, tôi dám khẳng định thế - cái đẹp gắn với buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội; và gắn với những năm chống Mỹ, cơ quan có hai nơi rất thân thiết để đi-về. Đó là 20 Lý Thái Tổ - Hà Nội; và thôn Mã Cháy, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Ở tuổi 20, chúng tôi - một lớp sinh viên vừa ra trường, sống với nhau rất trong sáng và tấm lòng thì thật hăm hở. Còn anh Đỉnh, cùng một số các anh khác, thuộc thế hệ lớn hơn, về Viện với tư cách là lớp đàn anh thuộc diện cốt cán. Sự ham say trong học tập, viết lách, học trong sách vở, và học với các bậc thầy và các lớp đàn anh, nơi chúng tôi, luôn luôn là một nhu cầu, một khao khát; và do thế, anh Đỉnh sớm trở thành một kiểu mẫu cho chúng tôi noi theo.
Vẫn còn có thể nói thêm về nhiều cái dễ khác cho việc viết về anh. Chúng tôi cùng là đồng hương của nhau, anh Nghệ An, tôi Hà Tĩnh; khi tôi còn là học sinh của trường Phan Đình Phùng thì anh đã rời trường Huỳnh Thúc Kháng để thành giáo viên Cấp Hai, rồi là thầy của trường Thiếu sinh quân - một tổ chức học sinh trong quân đội ở vùng tự do Khu Bốn cũ (gồm ba tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh) mà lớp trẻ chúng tôi không ai không mơ ước, không ngưỡng mộ. Về Viện cùng một thời gian, tôi thành lập gia đình sau anh nhiều; nhưng con gái đầu lòng của anh là Hồng Minh và của chúng tôi là Hoàng Anh chỉ chênh nhau có một tuổi. Lúc cơ quan sơ tán lên Bắc Giang, việc tìm nhà cho những cặp vợ chồng cán bộ có phần khó khăn vì tục kiêng ở nông thôn, nhưng cả hai chúng tôi đều may mắn tìm được những gia đình tốt bụng. Chúng tôi ở cùng thôn, sự chăm nom cho cái gia đình nhỏ, đặc biệt cho hai đứa con gái cùng học lớp Mẫu giáo đều rất giống nhau. Tôi nhớ mãi chuyện hai bà mẹ “khoe” nhau, mỗi khi mua được con gà cải thiện, đều dành hết phần thịt cho con, còn bốn nhà khoa học thì vui lòng chia nhau cái phần xương xẩu còn lại.
Nhưng viết về anh Đỉnh, đối với tôi cũng có chỗ không thật thuận, vì chuyên môn của chúng tôi khác nhau. Tôi, ngay từ đầu về Viện, được giao nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại; và cứ thế mà theo đuổi suốt đời, vì hiện đại luôn luôn có cái phần đuôi kéo dài mãi, không bao giờ hết. Đồng nghiệp thật sự theo nghĩa hẹp của tôi là các anh và các bạn trong Ban văn học Việt Nam hiện đại và Ban Lý luận, cùng làm việc dưới sự chỉ đạo của Phó Viện trưởng Hoài Thanh. Còn anh Đỉnh hồi đầu về Viện là ở Ban Văn học nước ngoài. Đó là điều tự nhiên, thuận theo khả năng và sở trường của anh; vì ngay sau ngày tốt nghiệp Đại học Sư phạm, anh được cử đi học ở Ấn Độ. Trong lớp cán bộ cốt cán của Viện ở tuổi ngoài 30, anh thuộc số ít người từ rất sớm đã có bài và có sách. Cái bài rất gây ấn tượng đối với tôi là bài anh viết nhân kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du, vào năm 1965, có tên Triết lý đạo Phật trong “Truyện Kiều”. Còn sách thì cứ đều đặn, mà ra mắt, kể từ Tagor (1961), Kalidasa và truyện thơ “Sơcuntơra” (1962), rồi Thần thoại Ấn Độ (1964).
Con người tầm thước, dáng đậm chắc, da ngăm ngăm, có gương mặt trầm tĩnh, với mắt trái nheo nheo (vì một tai nạn lúc nhỏ), như vui nghịch, như đô la, thường xuyên tôi được gặp nơi Thư viện của Viện nhà, là ấn tượng tôi ghi nhớ về anh lúc ấy và còn lưu giữ mãi cho đến bây giờ.
Sau năm năm là Tổ phó, rồi Tổ trưởng Tổ Văn học nước ngoài, khoảng 1965, anh lại chuyển sang làm Tổ phó rồi Tổ trưởng Tổ Văn học dân gian, để thay bác Vũ Ngọc Phan. Lại một chuyển đổi về chuyên môn, sau những thành tựu đã sớm được khẳng định. Ở khu vực văn học dân gian, sau cuộc chia tách Cổ-Cận-Dân đế thành hai tổ riêng, anh lại tiếp tục là người xây nền đắp móng. Lại một dịp cho tôi thấy ở anh bản lĩnh của một người khai phá, trong cái định hướng gắn việc nghiên cứu trong văn bản với việc đi điền dã, đi thực tế. Là cái chu trình: Đọc, đi, nghĩ, viết, không được coi nhẹ khâu nào. Nếu không thế, nếu không có các chuyến đi để hỏi han, ghi chép, nhận biết cách nhân dân kể chuyện; để tìm hiểu môi trường xuất hiện và lưu giữ các sản phẩm... thì quả không thể nghĩ ra cái gì mới ở khu vực văn hóa, văn học dân gian luôn sống động trong các hội lễ, trò diễn và lời kể của nhân dân. Tôi đón được ý đó, không phải chỉ trong lời nói mà trong toàn bộ phong cách công tác của anh. Và như sau này khi tôi được nghe, qua anh, “đất nước trung châu kể chuyện Ông Dóng”, tôi mới thật hiểu và tin tưởng đó là phương thức tiếp cận và tiếp nhận phù hợp nhất, thiếu nó sẽ không có sản phẩm đích đáng về văn học dân gian. Có điều, với Cao Huy Đỉnh, tôi biết anh đến với thực tế không phải chỉ với thói quen và hứng thú bình thường mà là với những ngẫm nghĩ rất sâu, với định hướng rất rõ, và với sự tha thiết, say mê không phải chỉ của một cán bộ quần chúng, mà còn là của một người nghiên cứu quần chúng và rất yêu quần chúng. Cái tác phong không lúc nào rời bỏ đối tượng và mục tiêu cần chiếm lĩnh. Mục tiêu đó, lúc này, đối với anh Đỉnh là hình tượng kỳ vỹ của ông Dóng “rất cổ và rất mới”, đối tượng của văn hóa và văn học dân gian mà anh rất có ý thức nắm bắt cho thật chắc, nhất định không để tuột. Để từ khởi điểm đó mà mở rộng ra nhiều điểm khác trong một hệ thống, một chỉnh thể. Chỉnh thể đó là tiến trình văn học dân gian Việt Nam trong bối cảnh lịch sử dân tộc và trong chỉnh thể văn hóa, văn học dân tộc. Cái tiến trình đó dường như đã được nhen nhóm từ Người anh hùng làng Dóng, năm 1969, và dần dần trở thành một khái quát, để có hình hài cụ thể cho nó, là Tiến trình văn học dân gian Việt Nam, ra đời chỉ sau năm năm. Có thể nói đó là một tốc độ nhanh gấp, một chiếm lĩnh bất ngờ, một kết thúc trọn vẹn cho một chu trình chỉ trên dưới mười năm Cao Huy Đỉnh khởi nghiệp và gắn bó với văn học dân gian dân tộc. Một chu trình gồm hai tác phẩm, nối tiếp trước sau, tác phẩm nào rồi cũng trở thành nền tảng, thành “kinh điển” cho những người nghiên cứu văn học dân gian các địa phương và Trung ương công tác ở các Trường, Viện và Hội...