
Nói “nhà văn cầm súng” ở đất nước ta là nói đến một danh sách nhiều người, nói đến cả một thế hệ, hoặc vài thế hệ. Nhưng nói nhà văn cầm súng hy sinh trên chiến trường với khẩu súng trên tay trong giáp mặt với kẻ thù, và trên lưng chiếc ba lô bản thảo, thì không phải là nhiều. Và sẽ còn ít hơn, nếu đó lại là người, trong một thời gian ngắn, đã hy sinh quá sớm, mà vẫn để lại được số trang bản thảo và ghi chép nhiều đến bất ngờ so với những gì sức người có thể làm được. Hơn thế, trên cái di sản viết và ghi chép cần mẫn còn may mắn giữ lại được, thấy tiếc xót cho biết bao dự định mới mẻ, lớn lao, sau những gì đã được in, có không ít trang lấp lánh bao tài năng như Ước mơ của đất và Sen trong đồng, bên những trang thật sự là chói sáng bởi nó là đỉnh cao – những đỉnh cao đứng bên nhau mà không hề che khuất nhau, mà luôn luôn gây ngạc nhiên như Chuyện xóm tôi và Những đứa con trong gia đình, Người mẹ cầm súng và Ở xã Trung Nghĩa… Thì đó chính là và chỉ là Nguyễn Thi.
Tính cho thật chặt chẽ thì đời văn và đóng góp văn chương của Nguyễn Ngọc Tấn - bút danh trước khi vào Nam của Nguyễn Thi - chỉ trên dưới 12 năm, kể từ khi ông tập kết ra Bắc, về công tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội, từ cuối 1956 đến khi ông hy sinh ở chiến trường Sài Gòn vào tháng 5 - Mậu Thân 1968.
Tất nhiên nếu kể đầy đủ về Nguyễn Ngọc Tấn, với tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca, thì ông có một thời gian dài chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tư cách một cán bộ văn nghệ làm công tác tuyên huấn, chính trị trong quân đội, ở Nam Bộ, với tập thơ Hương đồng nội được tặng Giải Ba trong Giải thưởng văn nghệ Cửu Long Giang (1949 - 1950).
Nhưng bạn đọc chỉ thật sự quen biết bút danh Nguyễn Ngọc Tấn khi ông cho in ở Hà Nội hai tập truyện ngắn, viết vào những năm cuối 50 đầu 60 (thế kỷ XX) - đó là Trăng sáng (1960) và Đôi bạn (1962). Và sau đó, trong khoảng cách 3 năm, kể từ 1965 là bút danh Nguyễn Thi - tác giả truyện ký Người mẹ cầm súng, Giải thưởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam...
Trên dưới mười hai năm, trong đó có 6 năm ở chiến trường miền Nam, dưới hai bút danh: Nguyễn Ngọc Tấn và Nguyễn Thi, sáng tác của cây bút hy sinh ở tuổi bốn mươi này để lại không phải là nhiều. Nếu tính riêng Nguyễn Thi thì tập Truyện và ký in lần đầu tiên, do Nxb. Giải phóng ấn hành năm 1969 - một năm sau ngày Nguyễn Thi hy sinh gồm: 7 truyện, ký ngắn (Chuyện xóm tôi, Mùa xuân, Mẹ vắng nhà, Những đứa con trong gia đình, Đại hội anh hùng, Dòng kinh quê hương, Những câu nói ghi trong Đại hội), và 3 truyện, ký dài: Người mẹ cầm súng, Những sự tích ghi ở đất thép và Ở xã Trung Nghĩa.
Từ Truyện và ký năm 1969 - cho đến Toàn tập Nguyễn Thi (4 tập), Nxb. Văn học ấn hành năm 1996, trong khoảng cách 27 năm, là sự tái bản và bổ sung dần các bản thảo mới, trong di cảo của Nguyễn Thi được đồng đội ở chiến trường gom giữ, bảo quản và lần lượt gửi hoặc mang ra Hà Nội. Ở Toàn tập, Tập I - dành riêng cho tất cả các sáng tác viết dưới bút danh Nguyễn Ngọc Tấn trước khi về Nam - năm 1962. Tập II: Truyện và ký, gồm các sáng tác dưới bút danh Nguyễn Thi đã đăng trên báo, và sớm đưa in ngay sau khi ông mất, gồm 8 truyện, ký ngắn, trong đó ngoài Trên đường xóm là truyện mới, 7 truyện còn lại đã có trong bản in Truyện và ký năm 1969; và 3 truyện, ký dài là Người mẹ cầm súng, Những sự tích ở đất thép, và Ước mơ của đất - là bản thảo còn viết dở đã được công bố trên bản in của Nxb. Quân đội nhân dân, 1970. Tập III: Những tác phẩm viết dở, gồm Cô gái đất Ba Dừa, đã in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số 7 - 1970; Sen trong đồng đã được trích in trên Văn nghệ quân đội số 7 – 1970; và Ở xã Trung Nghĩa, cùng một chùm 25 bức thư Nguyễn Ngọc Tấn gửi cho vợ là Nguyễn Thị Xuân, ở Khu tập thể quân đội, số 3 phố Ông Ích Khiêm - Hà Nội. Tập IV: Ghi chép, rút từ các sổ tay, đã được Ngô Thảo sưu tầm, chỉnh lý, giới thiệu trong Năm tháng chưa xa; Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1985.
Như vậy là ở tuổi bốn mươi, Nguyễn Thi hy sinh khi một nửa sáng tác được viết còn ở dạng bản thảo, trong đó có tác phẩm còn chưa có tên như tiểu thuyết ở xã Trung Nghĩa... Cùng với rất nhiều sổ tay ghi chép, Nguyễn Thi đã ghi chép rất nhiều, trong đó có phần chỉ có giá trị tư liệu nằm trong mấy chục sổ tay; có phần là nhật ký, hoặc thư từ. Phần ghi chép trước 1954, có khá nhiều, trong đó đã được công bố là chùm nhật ký 1953 - 1955, ông gửi lại cho Thanh Tịnh trước khi vào Nam, năm 1962, giúp soi sáng một ít góc khuất của đời riêng, với người vợ trước là Bình Trang. Phần ghi chép sau 1962 chiếm hơn một trong 4 tập của Toàn tập, trong đó có chùm 25 bức thư gửi vợ ở miền Bắc là Nguyễn Thị Xuân và con trai là Nguyễn Thi. Như vậy là để đến với một tập hợp đầy đủ của Nguyễn Thi cần một thời gian ngót hai mươi năm sau khi Nguyễn Thi qua đời, và mười năm sau ngày đất nước được giải phóng. Một thời gian không ngắn. Thế nhưng vẫn cần đến một thời gian như thế mới có thể tạm kết thúc một công việc không chỉ để tôn vinh và nhớ ơn một nhà văn - liệt sĩ, mà còn để nói lên một điều gì thật cảm động và thiêng liêng trong chiều sâu tiềm ẩn không dễ phát lộ, và rất có thể chẳng bao giờ được phát lộ, của một nền văn học viết về chiến tranh trong và sau chiến tranh ở Việt Nam thế kỷ XX. Một công việc được tiến hành bởi các đồng đội ở chiến trường, gồm rất nhiều chiến sĩ vô danh đã cùng ông chiến đấu mà không biết ông là ai; và nhiều đồng nghiệp thân quý khác như Nguyễn Trọng Oánh - người đã sưu tập, cất giữ các loại bản thảo, sổ tay rồi tìm cách gửi dần ra Bắc theo con đường an toàn nhất. Và tất nhiên có cả người ở hậu phương, như nhà phê bình Nhị Ca trong cuốn sách viết sớm nhất về một tác gia đương đại: Gương mặt còn lại: Nguyễn Thi (Nxb. Tác phẩm mới; 1983). Nhưng rồi do trọng bệnh, không qua khỏi, công việc Nhị Ca còn bỏ dở lại được Ngô Thảo tiếp tục trên hơn mười năm tiếp theo, với rất nhiều công phu và tâm huyết mới đến được Toàn tập gồm 4 tập, hơn 2000 trang, trong đó tác phẩm hoàn chỉnh chỉ mới hơn một nửa.
Qua nhật ký và ghi chép thấy hiện lên thật trung thực và rõ nét con người Nguyễn Thi, tác phẩm Nguyễn Thi. Nó là bộ phận cần thiết, không thể thiếu, để soi sáng thêm những trang văn đã viết xong như Người mẹ cầm súng, Chuyện xóm tôi... hoặc còn bỏ dở như Ở xã Trung Nghĩa, Sen trong đồng... Nó còn giúp soi tỏ cả những góc khuất của đời riêng, với những u uẩn, hoặc bi kịch, do hoàn cảnh, hoặc do quan hệ sống của con người Nguyễn Thi - quả không bằng an và phẳng lặng trong đường đời và số phận. Dẫn một đoạn nhật ký ông ghi ngày 30 - 12 - 1950 theo sách của Nhị Ca: “Đời tôi, từ lòng thương mẹ, trình độ học thức, ngày vui sướng, cuộc tình duyên, cho tới sự nghiệp cách mạng và tương lai ngày mai về văn nghệ, tất cả đều là lận đận và bỏ dở” (trang 26). Đó là trang ghi cho tuổi 22, đúng với một khoảng đời không thảnh thơi, suôn sẻ lắm của Nguyễn Ngọc Tấn ở tuổi thiếu niên, từ Bắc vào Nam kiếm sống, và tuổi thanh niên tham gia cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ. Vẫn còn 18 năm nữa cho đến năm 1968 - năm tác giả hy sinh ở chiến trường, để tiếp tục ứng nghiệm tâm thế “lận đận” và “dang dở” của ông.
Con của người mẹ kế. Bố mất khi 9 tuổi. Tuổi thơ từng có lúc theo mẹ vào nhà tù. Vì mưu sinh, phải theo một gánh hát vào Sài Gòn, ở với một người anh cùng cha khác mẹ. Năm 1945 lạc gia đình, rồi gia nhập quân đội. Làm công tác chính trị, tuyên huấn, văn nghệ trong quân đội. Có được nhận Giải ba trong Giải thưởng văn nghệ Cửu Long Giang, nhưng chưa là một cây bút tên tuổi. Năm 1954 cưới vợ là một cô gái Sài Gòn ra bưng biền tên là Bình Trang, rồi tập kết ra Bắc, để lại ở miền Nam đứa con gái có tên là Trang Thu... Tám năm ở miền Bắc, trong đại gia đình Văn nghệ quân đội ở 4 Lý Nam Đế, và từ đây bút danh Nguyễn Ngọc Tấn mới thật là một cái tên quen bên cạnh những Hữu Mai, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyên Ngọc, Xuân Thiều, Trúc Hà... để cùng góp phần làm nên một mùa văn chương in dấu thời điểm “xuân 61” đỉnh cao muôn trượng (Tố Hữu), với những Mùa lạc, Réo cao, Biển xa, Cỏ non... trong văn, bên những Ánh sáng và phù sa, Riêng chung, Trời mỗi ngày lại sáng, Bài thơ cuộc đời... trong thơ, ghi lại cái duyên đầu gặp gỡ rưng rưng đến say người của Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội...
Tám năm, trong niềm vui xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Nguyễn Ngọc Tấn vẫn không nguôi thương nhớ và ngóng vọng về Nam - nơi ông có một gia đình nhỏ, với người vợ mới cưới và đứa con gái đầu lòng mà ông chưa hề biết mặt. Thế nhưng cái tổ ấm đã không còn giữ được... Và truyện ngắn Im lặng (Văn nghệ quân đội, số 12 - 1957) như một hồi quang của nỗi niềm riêng ấy. Trong thiên truyện đầy ám ảnh của bóng tối và giông bão, của day dứt và vật lộn nội tâm này, người vợ ở miền Nam đã không thể yên ổn để chờ chồng. Im lặng - đúng như tên truyện, ghi nhận sự chống trả quyết liệt trong im lặng của người vợ - để bảo vệ cách mạng và bảo vệ tình yêu. Thế nhưng trước bạo lực và mọi âm mưu nham hiểm của đối phương, người vợ, trong yếu đuối và thế cô, đã không thể giữ được những gì cần giữ... Điều kỳ lạ, và cũng có thể là dễ hiểu trong sự gắn nối của những nghịch lý, bên cạnh và tiếp nối Im lặng, lại là những trang đằm thắm và đầy chất thơ về tình đồng đội, tình yêu, tình quê hương và niềm vui lao động, nơi hai tập truyện có tên là Trăng sáng và Đôi bạn. Con người rồi đây sẽ cho ta những trang tuyệt vời về cảnh và người của đồng bằng sông Cửu Long, của Bến Tre, Mỹ Tho và Long An, cũng là người đã từng viết rất hay về quê hương miền Bắc trên dọc dài quốc lộ miền Trung trong một truyện có chính tên là Quê hương: “Xe hơi đưa tôi vào quãng đường râm mát. Những cái gì thuộc về quê hương lại nối tiếp hiện ra: Vài cái lá bánh rơi ngoài cửa, có lẽ ngôi nhà ấy vừa có người mẹ về chợ; trên một cái cầu ao, một em bé chừng bảy tám tuổi đang tắm đã biết kéo quần lên che kín ngực, sự thẹn thùng sớm sủa về giới tính rất thân thuộc của quê ta; xa xa một vuông phản lau nhau toàn trẻ con đang ngồi ăn cỗ dưới bóng mát của một cái rạp dài: Đám cưới hay đám giỗ? Gánh cỏ của cô gái nào đó đang dở rửa chân dưới bến còn để ở chân cầu”.
Hẳn phải có một thôi thúc ghê gớm lắm mới khiến cho Nguyễn Ngọc Tấn quyết liệt đến thế trong nguyện vọng trở về Nam, như cách Nguyên Ngọc kể lại trong hồi ký Chiến trường - Sống và viết của ông. Và có phải là một sắp xếp của số phận không, lần này trở về Nam, Nguyễn Ngọc Tấn đã để lại ở hậu phương miền Bắc người vợ thứ hai, cũng vừa mới sinh một đứa con, có cái tên rồi sẽ là bút danh mới của ông xuất hiện ba năm sau: Nguyễn Thi. Một con gái ở phía Nam, một con trai ở miền Bắc, trong hai lần xây dựng gia đình; cả hai con - đứa lớn người cha chưa từng biết mặt, đứa bé phải chia tay khi mới được dăm tháng tuổi. Có lẽ vì thế chăng, Nguyễn Ngọc Tấn, rồi Nguyễn Thi đã gửi vào cả hai miền đất nước một tình yêu thương sâu thẳm và bền chắc tưởng khó có ai sánh được. Bởi tình thương ấy, nỗi nhớ ấy, niềm khao khát gặp gỡ và đoàn tụ ấy, trong gắn nối giữa riêng và chung, giữa gia đình và đất nước ông đã dồn đến cùng, rồi dồn hết vào tất cả những trang viết của mình.
Người cha đã hy sinh mà chưa từng có hạnh phúc và trách nhiệm làm cha. Người chiến sĩ đã ngã xuống ở tiền tiêu khi hành trình đến ngày đại thắng phải còn thêm 7 năm nữa! Mọi lời bình ở đây, tôi nghĩ đều là bất lực, bởi làm sao mà nói hết được nỗi xót xa cho những dang dở của một con người có thể nói là xứng đáng nhất, xứng đáng đứng ở hàng đầu trong đội quân chiến thắng của giới văn nghệ vào ngày vinh quang của dân tộc.
Tôi nói: Xứng đáng nhất, và ở hàng đầu, không phải chỉ vì một sự hy sinh anh dũng và oanh liệt trên chiến trường, với khẩu súng trong tay. Mà còn là, hoặc trước hết là, cùng với khẩu súng còn là cái bòng đựng bản thảo - những bản thảo còn dang dở ở trên lưng. Những bản thảo - cái mang theo nơi chiếc bòng, cái để ở hậu cứ, cái đã được in, cái chưa in, cùng những ghi chép chi chít trong mấy chục cuốn sổ tay - đó mới là mục tiêu cơ bản, và số một cho một cuộc đi vào chiến trường, và đến với những trận đánh ngay trên đường phố Sài Gòn là cái đích đến thiêng liêng của bất cứ người viết nào. Sáu năm vào nửa nước phía Nam, trong dữ dội và khốc liệt của chiến trường Nam Bộ và vùng ven Sài Gòn, Nguyễn Thi đã liên tục đi và viết. Và đi là để viết. Viết dưới mưa bom và pháo bầy. Viết trong các cuộc chống càn. Viết giữa hai trận đánh... Là người lính, với sứ mệnh được trao là viết, Nguyễn Thi đã có đủ cả hai tư thế, để đồng thời làm cả hai việc; nhưng khao khát lớn nhất của ông là làm sao có thể tranh thủ mà viết, để viết cho được. Và viết, là viết cho đất nước, cho nhân dân. Cho bà con, cô bác, nơi đâu cũng ruột rà, thân thiết đối với ông. Cho chính người thân của ông. Và cho cả những ước nguyện sâu xa của chính mình... Và viết gì? Ở mục tiêu cao nhất và thiêng liêng nhất, đó là viết về chiến công của nhân dân; về bản lĩnh và khí phách của nhân dân; về tâm hồn và trí tuệ, nỗi đau và niềm tin của nhân dân... Với hai vũ khí: Cây súng và cây bút, Nguyễn Thi đã tuyệt đối và trọn vẹn làm tròn trách nhiệm của mình, ở những trang viết, nó là mục đích cuối cùng của một người viết văn trong ý nghĩa chân chính của từ này.
Sáu năm vào chiến trường, chỉ có khoảng trên dưới dăm năm viết, tất cả những gì Nguyễn Thi đã chuyển được lên trang giấy, kể cả những bản thảo còn dang dở, đều có thể minh chứng cho sức mạnh kỳ diệu của ngôn ngữ - ngôn từ Nguyễn Thi. Một ngôn từ thật là giàu có, là biến hóa, là linh hoạt và còn là kỳ diệu nữa, trước yêu cầu dựng một kỳ đài hùng vĩ về nhân dân Việt Nam trong chiến đấu và nhất định sẽ chiến thắng. Với một khẩu súng, ai đó, kể cả Nguyễn Thi, có thể giết một hoặc nhiều tên địch. Với những trang giấy, Nguyễn Thi đã làm thức dậy toàn bộ sức mạnh tinh thần của một và nhiều thế hệ; và lưu lại cho hậu thế, một bức tranh cực kỳ sắc nét và thấm đẫm tình người về đồng bào miền Nam, về nhân dân Việt Nam trong một cuộc chiến dữ dội và khốc liệt vào bậc nhất của lịch sử dân tộc, trong nửa sau thế kỷ XX.