Một Nguyễn Minh Châu trầm lặng và quyết liệt trong văn chương Việt

Nhớ về Nguyễn Minh Châu tôi thường liên tưởng đến Nam Cao. Trong cảm nhận của tôi, cả hai có điểm gì đó gần nhau: Ở chất văn trong văn và chất nghệ sĩ nơi người. Ở một điểm khắc khoải lẫn về nhân sinh, về cõi đời.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989). Ảnh: Hội nhà văn Việt Nam
Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989). Ảnh: Hội nhà văn Việt Nam

Còn là bởi cả hai, trong tính cách, trong lối sống cũng có một vẻ gì đó giống nhau: Lặng lẽ, ít nói mà nghĩ ngợi, quan sát thì nhiều. Có lúc nhút nhát, cáu cạnh. Rất thâm sâu trong văn, nhưng thầm lặng ngoài đời.

Nguyễn Minh Châu, nhà văn đàn anh tôi: Đi lính, nhân vật chính và được ông yêu mến là người lính. Người lính có mặt trong hầu hết sáng tác của Nguyễn Minh Châu. Nhưng bên người lính có người đời, trong người lính có người đời. Cuộc đời rộng lớn, trong đó có phần đời của người lính. Văn Nguyễn Minh Châu cho thấy nhiều cuộc hành trình; những cuộc hành trình khiến cho tôi nhớ nhất là cuộc hành trình từ Dấu chân người lính (1972) đến Lửa từ những ngôi nhà (1977); cuộc hành trình vắt ngang thời điểm 1975, từ chiến tranh về hòa bình, từ chiến trường về hậu phương; nhưng là một hậu phương vẫn tiếp tục là chiến trường trong đời thường không khói súng. Có thể nói chất đời trăn trở, thấm đẫm trong văn Nguyễn Minh Châu.

Sau người lính của chiến trường và đời thường, tôi muốn nói đến con người xứ Nghệ trong văn Nguyễn Minh Châu qua nhiều truyện, đặc biệt là trong Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra... Hầu hết những người xứ Nghệ đến định cư ở thủ đô, hoặc ở bất cứ đâu, đều luôn luôn có rất đậm “khách quê”. Mỗi dịp đón khách, cả chủ lẫn khách đều được gói trong một không khí quê hương. Nhưng ở Nguyễn Minh Châu, tôi lại thấy trong thế giới đồ sộ có một “ông đồ Nghệ” đứng tách riêng ra để nhìn vào thế giới những khách quê, những con người Nghệ. Cái con người đứng trầm ngâm và lặng lẽ quan sát đó không còn là “ông đồ Nghệ” cũ, khăn gói đi tha phương kiếm sống, hành nghề. Mà là một “ông đồ Nghệ” - thủ đô tinh tế, hóm hỉnh, tài hoa, lịch sự, nhìn chăm chú vào cái thế giới “khách quê” đó, rồi nhìn vào chính mình, ẩn dấu một nụ cười hóm hỉnh và ngượng nghịu. Quả đúng như có một thế giới chân dung người Nghệ, nơi văn Nguyễn Minh Châu, được nhìn trong một vầng ánh sáng của phức xạ, của đô thị, của thủ đô, do vậy mà rõ nét hơn trong cả những mặt sáng và khuất tối ở họ.

Tôi thường nhớ về Nguyễn Minh Châu trong gian nhà chật chội của ông ở phố Ông Ích Khiêm và góc viết của ông réo rắt tiếng điếu và bộn bề tàn thuốc lào. Tôi càng nhớ ông trên yên chiếc xe đạp xăng xộc xệch (cho đến hôm mất, phố xá Hà Nội còn chưa ngập đầy xe máy như bây giờ), thong dong đạp chậm trên các tuyến đường Hùng Vương, Trần Phú, Phan Đình Phùng, Lý Nam Đế, xuôi về Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du, và đôi khi Lý Thái Tổ. Ông đạp xe trong tư thế khoan thai, không chút vội vã, vừa nhìn đường, vừa như đắm chìm trong suy ngẫm. Ở đây, trong phong cách giao tiếp của Viện Văn học, ở góc cuối cùng, thật kín đáo, khiêm nhường, mà cũng thật bao quát, nhìn được khắp cả tòa. Phải khẩn khoản mời, ông mới chịu nói đôi lời, không chút hùng hồn mà ấp úng, nhỏ nhẹ. Thế nhưng, thật xiết bao kinh ngạc, con người đó đã nói thật là vang, thật là rành rọt, qua thế giới nhân vật của mình, trong nhiều ngữ điệu: Lúc chậm rãi, thân tình; lúc hào sảng, sôi nổi; lúc bối rối, đau khổ, nó là tiếng nói không một cung bậc nào trội lên lấn át, nhưng cung bậc nào cũng rõ rệt là nó.

Nhà văn không ham nói, hoặc sợ nói to, y như Nam Cao, thế mà suốt mười năm cuối đời cũng đã nói tiếng nói chính luận kết bài đầu tiên: Viết về chiến tranh (1978) và bài cuối cùng: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn chương minh họa (1988). Ở đây không chỉ là can đảm, là dũng cảm, mà còn là quyết liệt, trong một tâm dấn xa về phía trước, và trong một nhận thức và đòi hỏi rất cao về mình và về nghề nghiệp của mình. Con người lúc nào cũng đau đáu một niềm ham mê ấy, một khao khát ấy - viết sao cho chạm được vào các tầng sâu, vào tận đáy sâu những sự thật, về quê hương, đất nước, dân tộc mình.

Không một niềm khắc khoải lớn, không một băn khoăn lật trở lớn không thể nào chạm được vào các tầng sâu ấy của sự thật. Ở phần cuối thế kỷ XX, theo tôi nghĩ, Nguyễn Minh Châu là một trong số người hiếm hoi chạm được vào những via quặng lớn của đời sống; nhưng xót xa thay, khi lưỡi mai của ông đã lùa được vào các via quặng thì ông đã phải qua đời. Cuộc chia tay với Nguyễn Minh Châu, theo tôi, là một trong mấy cuộc chia tay xót xa, có phần hơi dồn dập vào nửa sau những năm 80 thế kỷ XX gồm những Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ. Hiếm có sự mất mát nào lại luôn luôn được nhắc nhớ trong lòng người sống, để mà sống mãi, như sự mất mát Nguyễn Minh Châu vào thập niên 1980, và tôi tin cũng là của cả thế kỷ XX trong lịch sử văn chương Việt./.

 

 

 

GS. Phong Lê