
Thuộc thế hệ viết sau 1945, Trần Dần là người tôi được đọc khá sớm, ngay không lâu sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, qua cái truyện quả xứng với truyện dài vào thời điểm nó ra đời: Người người lớp lớp gồm ba tập. Người người lớp lớp không hiểu sao sớm đến tay tôi ngay khi sách vừa in xong cùng với Vượt Côn Đảo của Phùng Quán đang rất sôi nổi dư luận, trước khi biết đến Truyện Tây Bắc và Đất nước đứng lên - hai Giải nhất 1954-1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam - mãi về sau này tôi mới được đọc. Vậy là trong ký ức tuổi học trò của tôi, Trần Dần đã sớm hiện diện cùng với một gia tài khá bộn gồm nhiều loại sách, nhưng trong đó Người người lớp lớp vẫn có một vị trí không nhòa lẫn. Ấn tượng đọc Người người lớp lớp trong tôi trở nên rất rõ bởi quả có một cái gì mới, khác trong đó. Cái mới đến từ bối cảnh một thời kháng chiến chống Pháp chín năm gian khổ, rồi chiến thắng vẻ vang, trong âm hưởng bài hát “Giải phóng Điện Biên bộ đội ta tiến quân trở về”... Người người lớp lớp quả đã chuyển tải được cái khí thế hồ hởi ấy, và làm kết đọng được ít nhiều một cảm hứng lãng mạn, hào hùng gắn với hình ảnh một Chính ủy Trần ưa chọc gậy vào ánh trăng, cùng rất nhiều ánh trăng đi theo người lính hành quân lên ngược, kéo pháo, đào hào, nổ súng, ào ạt xông lên, với phía sau một ít quá khứ ôn nghèo kể khổ...
Như vậy là Trần Dần, đối với tôi, sau Người người lớp lớp bỗng trở thành một cái tên quen, gắn với bối cảnh kháng chiến và văn học kháng chiến, sớm có thành tựu đáng nhớ sau những Làng, Thư nhà, Xung kích, Ký sự Cao Lạng... Tiếp đó, tác phẩm thứ hai càng gây ấn tượng mạnh đối với tôi là bài thơ Nhất định thắng gồm 509 dòng thơ dài - ngắn (dòng chứ không phải câu), lắp ghép kiểu leo thang như thơ Mayakovsky (lần đầu tiên được dịch ra tiếng Việt ở ta) đăng trên Giai phẩm mùa xuân - 1956', nhìn bằng mắt rất lô nhô, nhưng đọc lên có nhiều đoạn lại rất êm, rất thấm, với bắt đầu là một lời kể như tự thuật:
Tôi ở phố Sinh Từ
Hai người
Một gian nhà chật
Rất yêu nhau, sao cuộc sống không vui?
Một “cuộc sống không vui” đến từ tình hình đất nước đang bị chia cắt thành hai miền, từ những hoạt động phá hoại Hiệp thương của Mỹ-Diệm, từ cảnh những đoàn người di cư vào Nam...; cùng với những khó khăn, vất vả, chộn rộn, âu lo của người dân miền Bắc, trong đó có hình ảnh người vợ trẻ của nhà thơ, “người con gái mới mười chín tuổi”, không có việc làm, lủi thủi trong mưa đi tìm việc:
Em đi
trong mưa
cúi đầu
nghiêng vai
(...)
Em biết đâu,
Mỹ miếc, Ngô nghê gì?
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi
Những khó khăn đe dọa hạnh phúc và sự yên ổn của mỗi người, mỗi nhà, đến mức:
Trời mưa to lụt cả gian nhà
Em tất tả che mưa cản gió
Con chó mực nghe mưa là rú (...)
Nó thiếu ăn - Hay là giết đi ư?
Nó đỡ khổ - Cả em đỡ khổ.
Từ bối cảnh chung của thời cuộc và từ hoàn cảnh riêng của “nhân vật trữ tình” trong bài thơ, thấy hiện lên như một ám ảnh cái hình ảnh, trở đi trở lại như một điệp khúc, đến 4 lần:
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
Không thấy phố
Không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
Trên màu cờ đỏ
Phải đến đoạn thơ thứ 9 (đoạn cuối cùng), ở giòng thơ thứ 386, thì bài Thơ mới hửng dần lên một âm điệu vui, tuy vẫn còn chưa hết cái bùi ngùi:
Hôm nay
Trời đã thôi mưa
Thôi gió
Nắng lên đỏ phố
Đỏ nhà
Đỏ mọi buồng tim lá phổi
Em ơi đếm thử bao nhiêu ngày mưa!
Trời đã thôi mưa, em đã có việc làm, phố phường đã rực lên màu cờ đỏ; để cho cái điệp khúc mới, đi tới cái kết thúc “Nhất định thắng” nằm ở câu thơ cuối cùng, sẽ không còn là “mưa sa” “trên màu cờ đỏ”; mà là:
Hôm nay
trời xanh
xanh đúc
Nắng lên
đỏ phố
đỏ cờ (...)
Anh bước đi
đã thấy phố thấy nhà
Không thấy mưa sa
Chỉ thấy nắng lên
trên màu cờ đỏ
Thế nhưng hình như tai họa lại tiếp tục đổ lên đầu Trần Dần từ bài thơ đó. Và lần này mới là căn bản. Bởi trước đó, còn nhiều chuyện khác đã đưa Trần Dần tới một cái kỷ luật trong quân đội. Nhưng đối với lớp bạn đọc bình thường như lứa tuổi trẻ chúng tôi, qua theo dõi báo chí, thì chỉ có thể thông qua đấy mà hiểu là có một chuyện gì bất thường đã xảy ra. Nhất là khi lại được đọc trên báo Nhân văn số 1', đặc kín cả hai trang, bài Con người Trần Dần rất bi thiết của Hoàng Cầm, cùng bức vẽ minh họa của Nguyễn Sáng gồm khuôn mặt Trần Dần nhìn nghiêng để lộ toàn bộ cái cổ dài có một vết khía to như chiếc lá - nó là vết dao cứa cổ đã thành sẹo, gợi nên rất bâng quơ cái ý nghĩ có một vụ tự sát đã diễn ra (!)... Rồi cũng trên Nhân văn có bức vẽ Hoài Thanh với khổ người cao gầy, mặc đại cán Tôn Trung Sơn, đầu húi cua, tay cầm điếu cày, túm ngực Trần Dần: - “Hồ Phong đây rồi!”.
Tôi sẽ không đi sâu bàn kỹ việc này, chỉ nêu cái hiện tượng Trần Dần với bài thơ Nhất định thắng khá ồn ào và ấn tượng mà chúng tôi được trực tiếp nghe - hiểu, đọc - hiểu, trong bối cảnh Hà Nội năm 1956, để rồi sau đó là một cái án kỷ luật 3 năm treo bút, và 30 năm im lặng của Trần Dần, kéo dài từ 1956 đến cuối những năm 80.
Trong im lặng là những bản dịch không đề tên, sau này tôi mới biết là của Trần Dần. Chẳng hạn bản dịch một tiểu thuyết hiện đại Ru-ma-ni qua bản dịch tiếng Pháp: Những người chân đất của Xtăng-cu dầy như nửa cái gối mà không đề tên người dịch; hoặc có để tên người dịch, nhưng chỉ là một giòng nhỏ đặt ở một chỗ khuất nào đó, mà người đọc không để ý thì cũng khó thấy.
Cùng với Trần Dần, tôi cũng được biết đến sự im lặng trên dưới ba mươi năm của một số người khác, trong đó có những bậc thầy tôi từng được học ở giảng đường Đại học 21 Lê Thánh Tông như lưỡng khoa Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường. Tôi chỉ nhắc đến Nguyễn Mạnh Tường, bởi được biết ông từng có dạy tiếng Pháp trong nhiều năm cho người con trai út của Trần Dần; dạy mà không lấy tiền, dẫu chắc là ông cũng rất túng; vì vào lúc ấy nhà Trần Dần làm gì có tiền cho con đi học tư - nhất là lại học tư nơi một người vào loại giỏi tiếng Pháp và văn chương Pháp hàng đầu ở Hà Nội như Nguyễn Mạnh Tường. Chính nhờ vào vốn tiếng Pháp rất bất ngờ đối với các tổ chức học đường và ngoại giao, cùng với kết quả thủ khoa ở Trường Họa mà con trai nhà thơ rồi đã được sang Pháp tu nghiệp, rồi thành điểm tựa cho cả gia đình và cho ông bố những năm cuối đời, lúc đã ở tuổi sáu mươi và bảy mươi.
Rồi thì cái tên Trần Dần dần dần xuất hiện trở lại, và hoạt động nghề nghiệp của ông xem ra vẫn cứ là trong dạng không bằng lòng với hiện cảnh, như được ghi nhận với rất nhiều yêu mến và vui hôm qua một bài tường thuật nơi một tờ Tạp chí văn nghệ của miền Trung. Bây giờ là hình ảnh một Trần Dần bước đi khập khiễng vì đau chân, càu nhàu vì mất ngủ, sau một ngày dài chuyện trò, đối thoại với anh em bạn văn nơi Cố đô. Và hình như ở cuộc gặp gỡ đó, Trần Dần đã phát biểu cái ý kiến rất quyết liệt phải chôn thơ văn tiền chiến - chôn Thơ mới và Tự lực văn đoàn. Như vậy là sau hơn ba mươi năm im lặng, ngoài việc dịch để kiếm sống, Trần Dần vẫn nung nấu rất nhiều ý nguyện đổi mới văn chương; và do vậy, lẽ tự nhiên, công cuộc Đổi mới đất nước đã có thể giúp cho ông một sự hồi sinh. Trần Dần lại viết - tôi được nghe thế, nhưng việc in ra được còn rất ít so với tổng lượng những gì được ông viết ra. Tác phẩm Cổng tỉnh - Thơ - Tiểu thuyết, Dạ khúc trường thiên' như được ghi ở bìa, dày 175 trang, được tặng giải thưởng hàng năm - năm 1995 của Hội nhà văn là một tập hợp các tác phẩm gồm 2 phần - 38 chương; thấy đề ở cuốn sách: 1959; vậy là phải sau hơn 35 năm mới được “trình làng”. Chỉ đáng tiếc là không thấy tác giả hoặc người biên tập đưa vào đây bài Nhất định thắng - rất có tư cách một chương quan trọng; thiếu nó, khó có một hình dung thích hợp và đầy đủ về Trần Dần, và thơ Trần Dần.
Cho đến lúc này, Trần Dần vẫn cứ là một ẩn số đối với lớp người đọc như tôi, muốn biết nhiều hơn về sức sáng tạo của ông; nói đúng hơn về một khát vọng sáng tạo không ngớt hành hạ ông, đến là quyết liệt và dai dẳng. Dai dẳng cho đến ngày ông qua đời ở nhà riêng số 5 phố Vũ Hữu Lợi, như được thể hiện trong chính đôi câu đối của ông được viết bằng phấn (hoặc mực màu) ngay trước tường nhà, đập ngay vào mắt bạn bè thân hữu, vừa như để đưa tiễn người đi, vừa như để nhắn gửi với người ở lại: “Tiếc cho những chân trời không có người bay. Lại tiếc cho những người bay không có chân trời”. Tôi không nhớ được thật chính xác một vài chữ trong đôi câu đối; nếu có sai, mong được đính chính và thứ lỗi.
Nghe ông Dương Tường nói: Trần Dần còn để lại hơn ba chục bản thảo thơ, vài ba tập tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận. Vậy là cả một kho chữ còn trong di cảo. Hiện tượng người viết viết không kịp in hoặc chưa thể in, mãi lâu sau khi mất mới được in là hiện tượng cũng thường xảy ra với nhiều người trong giới nghề nghiệp chúng ta. Lại nghe Dương Tường nói là ông chưa viết nổi về Trần Dần, dẫu đã tự hứa với mình nhiều lần, vì “bất lực, không có cách chỉ nói được đầy đủ” về Trần Dần; là người, theo ông “thuộc nơi khổng lồ, cái nòi bao giờ và ở đâu cũng hiếm”. Nghe như vậy mà ngại. Nhưng càng ngại càng giàu sức kích thích. Tôi hy vọng với di cảo này, sẽ trả lời được câu hỏi về những tìm kiếm và các giá trị mới ở Trần Dần, một người luôn luôn đau đáu cái nguyện vọng đổi mới văn chương, đổi mới nghệ thuật.
Bài cảm nghĩ đầu tiên về Trần Dần tôi viết nhân giỗ đầu của ông vào tháng 1-1998 đã phải dừng lại nhiều lần bởi trong tôi còn ngổn ngang bao suy ngẫm. Đành phải chờ và đành cứ phải đi loanh quanh phía ngoài để bù đắp những khoảng trống mà mình chưa biết. Thế nhưng, thỉnh thoảng tôi vẫn có được đôi dịp may mắn. Chẳng hạn như khi được đọc với rất nhiều hứng thú và cảm động bài ký Người vợ của Nguyễn Khải viết về bà vợ Trần Dần, được in trong sách Hà Nội trong mắt tôi. Qua hồi ức của Nguyễn Khải về gia đình Trần Dần mà ông có lịch sử quen biết khá lâu; về những vất vả cam go mà bà vợ Trần Dần cùng đàn con đã phải chịu đựng suốt bằng ấy năm; cả về chính mấy đứa con - một gái, hai trai, tôi bỗng được ngẫm nghĩ rất nhiều điều. Người phụ nữ “đi trong mưa, cúi đầu, nghiêng vai”…. trong bài thơ, ngót 40 năm về trước, rồi cũng đã có các loại việc mà làm, để gánh cả một gánh gia đình quá nặng trên vai; thế nhưng cuối cùng bà đã có thể vượt qua tất cả để nuôi đến cùng ông chồng văn sĩ lận đận và khó tính; nuôi và dạy nên người cả đàn con, trong đó có đứa con rất có chí, có tài, và do có tài, do có nghiệp nghệ sĩ nên biết trân trọng và hiểu được những nông nỗi của sáng tạo và sự khốn khó của người cha.
Trần Dần, con người cầm tinh con hổ thường có lúc hay mắng mỏ vợ mình - như được kể trong bài ký của Nguyễn Khải; nhưng bà vợ mỗi lúc kể lại cho khách nghe chuyện đó, hoặc trả lời khách về câu hỏi sao không giúp cho ông chồng kiên trì tập luyện để chống lại bệnh tật và lấy lại được sức khỏe, thì chỉ cười hồn nhiên: “Ông ấy là cường hào, ác bá, Đảng và Chính phủ còn chả bắt buộc được huống là tôi”.
Sự thật thì bà đã chăm sóc ông rất mực chu đáo, rất mực tận tụy cho đến lúc ông ra đi - như tất cả những người phụ nữ Việt Nam, càng như tất cả những người vợ Việt Nam khi chồng bị hoạn nạn./.