Xuân Quỳnh và hành trình đi đến tận cùng của tình yêu trong thơ (Phần 1)

Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ hiếm hoi đã để lại nhiều bài thơ tình hay trong suốt đời thơ ngót ba mươi năm của mình. Ở thời kỳ đầu, qua hai tập Chơi biếc (1963) và Hoa dọc chiến hào (1968), bài thơ Thuyền và biển là bài in sâu trong tâm hồn người đọc nhiều thế hệ. Trong hình tượng thuyền và biển - “Chỉ có thuyền mới hiểu: Biển mênh mông nhường nào. Chỉ có biển mới hiểu: Thuyền đi đâu về đâu?” thấy được sự biểu đạt, sự tượng trưng cho tình yêu muôn thuở của con người, đến từ hai sinh thể khác giới để làm nên sự cộng hưởng, sự giao hòa, sự sinh sôi tạo nên cuộc sống.
Nữ sĩ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Tuấn Anh khi còn bé. Ảnh: Internet
Nữ sĩ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Tuấn Anh khi còn bé. Ảnh: Internet

Tứ hay, lời da diết. Nghe trong thơ có sóng gió của cao rộng đất trời và sóng gió trong biển lòng dào dạt của con người. Đó là tiếng nói, là vang vọng của một tình yêu nói chung, đúng cho mọi người, chung cho muôn đời. Thế nhưng tình yêu, có khác với bất cứ tình cảm nào khác của con người, còn là riêng, là rất riêng; và cái phần riêng đó thật sự chi phối để làm nên cả hạnh phúc và đau khổ, cả bù đắp và chia sẻ, cả gắn nối và chia phôi, cả niềm vui và xót xa...

Đây là Xuân Quỳnh của thời con gái trẻ trung, thời chưa đến với Lưu Quang Vũ. Không biết thời của cuộc lập gia đình lần thứ nhất của chị có chút dư âm nào ở đây không? Tôi chưa bao giờ hỏi ai để được biết về Xuân Quỳnh của tuổi hai mươi, với gương mặt vui tươi và bừng sáng, dường như không biết buồn rầu, ủ dột là gì; một Xuân Quỳnh là cô văn công xinh đẹp, chỉ vài năm sau, qua Chồi biếc mà trọn vẹn một gương mặt thơ nữ, hẳn chắc từng làm say mê nhiều người, có thể ban phát hạnh phúc cho bao nhiêu chàng trai. Thế nhưng tôi lại chưa đọc được trong thơ chị thời gian này, những bài thơ thật say, tuy chị đã có bài hay, như Thuyền và biển...

Chia tay với cuộc tình thứ nhất, Xuân Quỳnh đã sớm đến với Lưu Quang Vũ, lúc này còn ở tuổi 25, sau khi chia tay với Tố Uyên, rồi lại chia tay tiếp với một cuộc tình thứ hai; có nghĩa là một Lưu Quang Vũ sau mất mát trong hai cuộc tình dồn gấp chỉ trong khoảng dăm năm. Không kể Vũ còn phải chịu đựng biết bao là bất hạnh trong mưu sinh và lập nghiệp, sau khi rời quân ngũ; thậm chí đang trong một cơn khủng hoảng tinh thần có chiều tuyệt vọng:

Điều anh tin không có ở trên đời

Điều anh có không giúp gì ai được.

Xuân Quỳnh đã kịp đến và giơ tay đón Vũ, đã chở che bao bọc Vũ, đã làm điểm tựa cả vật chất và tinh thần cho đời Vũ. Là người phụ nữ thông minh, giàu tình cảm và nhạy cảm, Quỳnh biết Vũ đang cần những gì. Còn chị, chị đã dành toàn bộ những gì mình có - trong cuộc tình yêu thứ hai, và cũng là cuối cùng này, cho người yêu; đã bù đắp cho những thiệt thòi, bất hạnh của anh. Hơn thế, chị còn mong không phải chỉ là bù đắp mà còn là hồi phục, là tái sinh và trở lại nguyên vẹn những tiềm năng, tài năng Vũ có, mà có lẽ hơn ai hết, Xuân Quỳnh đã sớm nhận rõ trong những năm bảy mươi gian khổ của đất nước, và tuổi 20 có quá nhiều gian nan của đời Vũ.

Xuân Quỳnh đã đến với Vũ đúng vào lúc ấy. Lúc Vũ đã có những bài thơ cho hai cuộc tình gồm cả say đắm và cay đắng.

Vũ đã đón nhận tình yêu của Quỳnh, tỉnh táo trong một cảm nhận ân nghĩa, sau hai cơn bão lòng:

Dù sao cuộc đời đã dành em lại cho anh

Điều mong ước đầu tiên, điều ở lại sau cùng

Chúng ta đã đi bên nhau trên mặt đất

Dẫu chỉ riêng điều đó là có thật

Đủ cho anh mãi mãi biết ơn đời.

Nghe mà thương mà tội, bởi hình như cái bàng hoàng của những mất mát vẫn còn lẩn khuất đâu đây!

Trong tình yêu với Quỳnh, với thời gian không dài, Vũ đã lấy lại được sức lực và cả sự bình tĩnh của tâm hồn. Cách nói của anh trở nên điềm đạm hơn, như một trải nghiệm, một tổng kết mà dường như chỉ trong ân tình mới có được:

Biết ơn em, em từ miền gió cát

Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng

Anh thành người có ích cũng nhờ em

Anh biết sống vững vàng không sợ hãi

Như người làm vườn, như người dệt vải

Ngày của đời thường - ngày ở bên em.

Hạnh phúc bây giờ không có gì là chói gắt, là đột xuất như những mối tình đầu; và do vậy mà cái đời thường bỗng được đưa lên tầm cao hạnh phúc: Cái đời thường - ở bên em.

Còn Xuân Quỳnh - chị đã dành toàn bộ, dành trọn vẹn tình yêu cho Vũ. Chị đã được sống hạnh phúc, thật hạnh phúc trong nhận và cho, và trước hết là cho. Xuân Quỳnh đã cùng chia sẻ những khó khăn của đời Vũ; và cũng như Vũ, chị càng cảm nhận rõ hơn trong đó tất cả hạnh phúc của đời thường. Chị đã có những bài thơ rất hay về con và cho con, qua thế giới tâm hồn đằm thắm của một người mẹ - người mẹ chung, không phân biệt, không thiên vị của cả ba đứa con: Con riêng của mình, con riêng của Vũ và con chung của hai người.

Chị viết về mẹ của Vũ - bà Lưu Quang Thuận - như

Phải đâu mẹ của riêng anh

Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi

Mẹ tuy không đẻ không nuôi

Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong chính mẹ của mình:

Chắt chiu từ những ngày xưa

Mẹ sinh anh để bây giờ cho em

Chị viết về những lo lắng chăm nom rất nhỏ mà chỉ tình yêu và lòng thương yêu mới có:

Sao không cài khuy áo lại anh

Trời lạnh đấy, hôm nay trời trở rét

Ai ở Hà Nội, ở đồng bằng miền Trung và Bắc Bộ mà quên được cái “gió mùa” đã một lần xuất hiện trong văn Thạch Lam, và bây giờ sống một lần trong thơ Xuân Quỳnh gắn với một tình yêu với biết bao là thủ thỉ. Quỳnh yêu cả những phố huyện nhỏ, nơi Vũ từng sống và từng qua:

Đến phố huyện lại nhớ về phố huyện

Phố huyện nào anh ở ngày xưa?

Phố huyện nào anh ở những chiều mưa?

Tiếng vó ngựa về đâu rồi phố huyện?

Có thể nói Quỳnh đã yêu Vũ trong suốt khắp không gian và thời gian. Trước đây, trong bài Sóng, Xuân Quỳnh viết:

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức.

Còn bây giờ thì chị thức để “hát ru chồng những đêm khó ngủ”. Khỏi phải nói, đó là tình yêu tuyệt vời của người vợ.

GS. Phong Lê