
Có thể nói đến một hiện thực được phản ánh theo phong cách Nguyễn Thi, một phong cách luôn luôn gắng thâu tóm hiện thực ở dạng đúc kết nhất.
Chuyện một gia đình. Hay nói cho đúng, và thu nhỏ hơn: Những đứa con trong gia đình. Đó là chuyện của Việt, một chiến sĩ trên chiến trường, giữa một thời điểm căng thẳng nhất và cũng là yên tĩnh nhất của đời anh: Lúc anh bị thương, lạc đơn vị, nằm trên trận địa vắng lặng, sau một cuộc đọ lê, bây giờ chỉ còn mùi khét của khói và mùi tanh của xác Mỹ. Cái chết chờn vờn đến bên anh, nhưng không phải là cái lúc này làm anh vướng bận. Trong mông lung mờ tỏ của tiềm thức và ý thức, Việt chỉ hướng về mẹ, về những người trong gia đình, và theo triền dây suy tưởng đó, dựng lại cả một quá khứ của tuổi thơ anh. Gia đình: Đó là cái rõ nét trong anh, với hình ảnh trung tâm quần tụ mọi kỷ niệm đẫm nước mắt về một người mẹ đã khuất, người kết tinh cả một quá khứ vật lộn với sinh kế và kẻ thù để nuôi chồng, nuôi con. Gia đình: Là kỷ niệm rỉ máu về một người cha đã hy sinh. Gia đình: Đó là một ông chú, người hiện đang còn giữ một cuốn sổ ghi lại chuyện của những người trong nhà - những mối thù, những chiến công -, người làm nhiệm vụ kể lại sự tích gia đình, và cuối mỗi câu chuyện thế nào cũng hò lên mấy câu. Gia đình: Còn là một người chị được tạc theo hình ảnh của mẹ, cũng đã lên đường đi chiến đấu ở một phương nào đó.
Nguyễn Thi cho ta thấy biết bao là tình sâu nghĩa nặng trong một chữ “gia đình”, nó là nỗi niềm sâu thẳm của người chiến sĩ ra trận lần đầu. Nguyễn Thi nói đến gia đình - cái đơn vị cơ bản, nền tảng đó của mỗi người con ra đi, đồng thời đem lại cho nó một ý vị thiêng liêng khi mở rộng nó ra và gắn nó với quê hương đất nước.
Chuyện một xóm: Chuyện xóm tôi. Cái xóm nhỏ mươi chục nóc nhà, con mương nhỏ, rặng dừa, chiếc cầu tre. Chuyện xóm nhỏ mà lại bắt đầu bằng hai đứa trẻ: Đực và Binh. Tình bạn của chúng kết giao bền chặt tự nhiên, vì chúng có hai ông bố cùng bị ác ôn Tổng Phòng giết một ngày. Hai người bị thằng Phòng bắn nằm gác chân lên nhau, tay bị trói chung và cần cổ bị cột chung một sợi dây buộc lớn. Gia đình chúng có chung một mối thù nên chúng cũng có một trò chơi chung: “Hai cái dáng bé nhỏ ấy cùng chạy dọc, chạy ngang, vừa bắn vừa hô, vừa cười hí hố, vừa nhai chùm ruột, say sưa rượt đánh một thằng giặc vô hình nào đó đang chạy ở trước mặt và ngoan cố chưa chịu khuất phục đầu hàng”. “Thằng giặc vô hình” đó chính là hiện thân bằng xương bằng thịt của Tổng Phòng. Câu chuyện mở ra khỏi cái giới hạn chật hẹp của nó lúc nào không biết: Chuyện trẻ con mà ra người lớn, chuyện nhà thành chuyện làng, chuyện trò chơi mà mang một ý nghĩa nghiêm гео chinh. Cái xóm nhỏ bỗng từ lúc nào không biết hiện ra trước mắt ta, trải bao nhiêu biến cố, máu chảy, người chết; trải bao nhiêu náo động: Tiếng súng, tiếng mõ, tiếng hò... Nhưng rồi sau tất cả, khi mọi náo động đã qua, cuộc sống lại trở lại nếp bình thường, bởi vì “những việc như máy bay trực thăng Mỹ mới bắn xối xả vào xóm sáng hôm qua đấy thì sáng nay nó đã trở thành dĩ vãng, thù đó không quên, nhưng việc mới dồn dập tới, mọi người tưởng như nó đã qua lâu lắm rồi.”. Người lớn ra đi, lớp này qua lớp khác. Và tác giả lại dẫn chúng ta trở về cái bình lặng gan góc của xóm nhỏ đêm hôm, trong giấc mơ trẻ thơ, trong câu chuyện giữa những người già, về quê hương, về thời cuộc...
Chuyện một xã: Ở xã Trung Nghĩa; nhưng là qua một xã để thấy sự kết tinh tất cả cái oi ngột dữ dội mà nén lặng của miền Nam trong thế kìm kẹp của Mỹ - ngụy những năm trước đồng khởi. Lúc này, dường như kẻ thù còn đang trong cơn vênh vang đắc thắng: Tòa trụ sở hội đồng được sửa sang, khu trù mật đang được khởi công, chiếc mô-tô của cảnh sát Âu và chiếc xe đạp của đại diện Hiếm đều đặn đi về... Nhưng chính cái lúc tưởng là lặng lẽ nhất ấy, cũng lại là lúc trời sắp nổi bão lên rồi. Bão bên trong. Thiên truyện dừng lại ở cái phút im lặng ấy, vào cái điểm “mắt bão” ấy.
Chính cái ý thức khái quát luôn luôn thường trực trong Nguyễn Thi đã giúp ông vượt lên trên hiện thực bề bộn mà làm chủ được tài liệu, trên cả bề mặt và bề sâu. Bề mặt xã hội, bề sâu con người. Cuộc sống đọng lại ở đấy, ở phía sau, chiều sâu trang sách.
Nhưng với tất cả sức đúc kết đó, sáng tác của Nguyễn Thi không bao giờ dừng lại ở mức chỉ làm thỏa mãn cho ta một nhu cầu nhận thức đơn thuần. Đọc ông, không ai mà không cảm thấm một nỗi xốn xang, day dứt về “những điều trông thấy”; và cũng xốn xang, day dứt không kém là những vang động, những lắng đọng trong đáy sâu của hồn người. Một nhận thức, và từ đó, một xúc động cùng đến, và ở lại đấy, không nhòa mờ, không dứt bỏ được, đó là cái làm nên sức sống đặc biệt của những trang Nguyễn Thi.
Và như vậy, với Nguyễn Thi cuộc sống không chỉ để cho ta xem ngắm một cách thờ ơ, mà là luôn luôn sục sôi, giục giã, buộc ta bộc lộ một thái độ, đòi hỏi ta phải có ý kiến trả lời. Nguyễn Thi ít khi nói to lên, một cách trực tiếp, những cảm xúc của chính mình. Nhưng sau những trang viết “khách quan” để cho sự việc tự nó nói lên, thấy dồn nén bao nhiêu nghĩ suy, tâm sự, khiến cho người đọc không thể nào bình yên, vô tâm được. Bởi lẽ, nhà văn luôn luôn biết rọi vào đấy một thứ ánh sáng riêng, không phải chỉ của đôi mắt, mà là của cả tấm lòng, khiến cho mọi màu sắc, âm điệu, cung bậc của đời hiện lên thật rành rõ. Khi ông viết về một thằng Phòng “mà cuộc đời làm tổng của nó đã tới nước nó có thể nghĩ rằng đạn trúng thằng nào thằng đó là Việt Cộng, cứ bắn”; về đàn con chị Út nằm hầm: “Cả bốn đứa đều chống tay xuống đất, chổng mông lên trời như bốn tai nấm (...) Con bé, một tay bồng em, một tay thò ra ngoài hầm quấy bột, nó bắc xoong lên ba cục đất chụm bằng lá dừa...”; về người mẹ chỉ đêm đêm mới khóc, mẹ khóc lặng lẽ khi đàn con đã ngủ cả, “chỉ còn tiếng chuột chạy trên nóc nhà, tiếng chó sủa ở đầu xóm và tiếng mõ của dân canh trên đồn dân vệ..”; về vợ chồng ông Tư Trầm nhận năm công đất cách mạng trao cho; về hai chị em Việt khiêng bàn thờ mẹ sang gửi nhờ nhà chú để ra đi, hẹn “đến chừng nước nhà độc lập lại đưa má về.., ta tưởng như tất cả những lời, những chữ ấy không phải chỉ được viết bằng thứ mực thông thường, mà là bằng mực của chính tấm lòng ông, mực đến từ máu và nước mắt.
Thể hiện cuộc sống trong mọi màu sắc, âm điệu, cung bậc khác nhau của nó, đó là nét đặc sắc trong tài năng, trong phong cách Nguyễn Thi. Cho nên nói về Nguyễn Thi là nói về một cuộc sống náo động và dữ dội bên cạnh một lắng sâu êm dịu, thủ thỉ của tâm tình; nói về sự dồi dào một chất thơ trong suốt bên cạnh cái bộn bề hoành tráng của sử thi; nói về một bút pháp trữ tình, đôn hậu bên cạnh không ít âm điệu trào phúng sâu cay. Tóm lại, nói về Nguyễn Thi là nói về một phong cách đa dạng.
Quả là thế, và hoàn toàn dễ hiểu, khi người viết, đó là Nguyễn Thi, và khi đối tượng miêu tả, đó là hiện thực miền Nam. Người đã dốc cả tâm hồn với muôn vàn yêu thương lên những trang thơ về con trẻ, về ông bà, cô bác của chúng ta, hằn không thể không sôi trào sự khinh bỉ, căm giận lên đầu những kẻ mặt người dạ thú. Và cũng thật khó mà phân biệt âm điệu nào là chính khi cuộc sống trong nguyên khối của nó, là bộn bề đến thế. Giữa những tình huống đang bị dồn ép đến mức bi thảm nhất như trong Ở xã Trung Nghĩa, vẫn không ít những cảnh ngộ khiến cho ta bật cười, cái cười vừa như ngọn roi đập vào kẻ thù, vừa làm cho con người trong cuộc khoan khoái trở lại, có thêm sức để đi tiếp con đường đi còn rất lắm chông gai. “Rầu thúi ruột mà vẫn còn tiếu lâm” là thế.
Nhưng đa dạng mà nhất quán. Đó là sự nhất quán của một vốn từng trải, một tâm hồn, một tài năng, một trí tuệ.
Có lẽ là còn lâu, rất lâu về sau, Nguyễn Thi đối với chúng ta vẫn cứ mới mẻ mà quen thuộc như thế. Đọc Nguyễn Thi, ở bất cứ trang nào, ta cũng đều cảm nhận được khá rõ một phong vị dân gian truyền thống. Chuyện về ông Sáu Hò, chuyện của bà con Tam Ngãi kể về vợ chồng, mẹ con chị Út, qua ngôn ngữ của Nguyễn Thi nghe như vọng lại từ ca dao hoặc truyện cổ.
Nhưng dân gian mà rất hiện đại. Bởi, trong Nguyễn Thi phảng phất có biết bao người đi trước, như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao... Điều có thể chắc chắn là, cái oi ngột, bức bối của Tắt đèn không thể trở lại với chúng ta một lần thứ hai đậm đến thế, sau chẵn 30 năm, nếu vì một rủi ro gì đó, Ở xã Trung Nghĩa không còn giữ lại được. Tóm lại, Nguyễn Thi gợi cho ta nhớ, dường như trong một ấn tượng toàn bộ, dáng nét của nhiều người đi trước.
Nhưng không phải bóng người trước trùm lên ông. Nếu vậy chẳng còn ông nữa cho ta bàn. Cũng không phải ông đi theo bắt chước. Sự bắt chước trong nghệ thuật sẽ thủ tiêu ngay chính bản thân nó, sẽ chẳng là gì cả. Đây là một sự tiếp tục, hơn thế, một gặp gỡ. Người đọc tiếp xúc với Nguyễn Thi, và thật kỳ lạ, qua Nguyễn Thi như trong một nguồn sáng mà gặp rất nhiều người, những tên tuổi quen thuộc có cùng một hành trình hướng tới những mục tiêu cao và xa của nghệ thuật.
Văn mạch dân tộc - nếu có thể mượn dùng chữ ấy để nói về truyền thống - vốn là một con đường đã có sẵn. Nhưng đừng tưởng bất cứ ai cũng có thể dễ dàng đặt chân lên trên con đường đó; hoặc nói cho đúng hơn, ai cũng có thể đặt chân lên đó, nhưng chưa dễ đứng riêng ra, trên đôi chân của mình, mà làm một cuộc chạy tiếp sức lên phía trước.
Hiện tại đến từ truyền thống. Truyền thống bao giờ cũng có vai trò làm nền. Nhưng nền truyền thống trong văn học bao giờ cũng là một cái gì ẩn ngầm, lặn sâu, nó được đúc nên bằng những tinh hoa. Người viết lạnh nhạt, hoặc chưa sâu sắc đến độ cần thiết, khó bắt gặp được nó. Đây là chỗ hội tụ của vốn từng trải, sự hiểu đời; hơn thế, đây là chỗ giao hòa của những tình cảm lớn. Mỗi người viết gắn với một giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước, đề cập những vấn đề của người đương thời. Nhưng nếu cố gắng đi thật sâu vào đời, cảm xúc đến tận cùng những buồn vui của nhân dân, nhất định họ sẽ bắt gặp được những vấn đề chung của lịch sử, nó trải rộng trong không gian, xuyên suốt thời gian và kết tụ thành những mạch ngầm. Chính đó là lý do làm cho sáng tác Nguyễn Thi luôn có sức khơi sâu và mở rộng, viết về miền Nam mà cho ta hiểu toàn đất nước, viết về hiện tại mà gợi nghĩ cả quá khứ, tương lai.
Trở lại với mặc cảm “dở dang” và “lận đận” của Nguyễn Ngọc Tấn trong Nhật ký 1950 không phải là không có chút cơ sở tâm linh. Cũng như Trần Đăng, và cả Nam Cao, ông đâu có được thụ hưởng cái hạnh phúc nhìn thấy trọn vẹn thành quả công sức của mình. Cũng đâu được đón nhận những luồng sáng từ tác phẩm của chính mình. Thành quả đó, luồng sáng đó ông tuyệt đối dành cho chúng ta - những người đọc ông. Chỉ người đọc mới có thể được thấy sau đỉnh cao Người mẹ cầm súng thì Ở xã Trung Nghĩa là một thành công không lặp lại. Và trong Ước mơ của đất, Sen trong đồng.. cuộc sống của những “người mẹ cầm súng”, của những lớp con trẻ khi “mẹ vắng nhà”, và cả đám con gái đầy sức trẻ trong mùa xuân vẫn đang được mở ra trên cả hai chiều rộng và sâu, quá khứ và tương lai.
Nguyễn Thi thuộc trong số ít nhà văn mà cuộc đời và tác phẩm luôn khiến ta xúc động và không hết ngạc nhiên. Nghĩ về ông là nghĩ về một liên hệ giữa nhà văn và cuộc sống, nhà văn và quần chúng; và những lời ông tâm sự sau đây hoàn toàn có sức nặng của một chân lý đã được thể nghiệm: “Chúng ta tự hào sung sướng được sống trong lòng biển, vì giọt nước có vinh quang cách mấy cũng chỉ là giọt nước, nó sẽ khô ngay lập tức nếu không được nằm chung với biển, còn vinh quang của biển thì đời đời không lay chuyển được” (Đại hội anh hùng). Nghĩ về ông là nghĩ về văn mạch dân tộc, đi từ nguồn và nằm trong dòng chảy của những tên tuổi lớn của lịch sử và lịch sử văn học. Nghĩ về ông là nghĩ về sự tiếp tục của mấy thế hệ nhà văn cầm súng trong thế kỷ XX. Nghĩ về ông là nghĩ về sự thống nhất giữa tâm hồn và tài năng, tâm hồn nuôi dưỡng tài năng, và tài năng bồi đắp cho tâm hồn. Nghĩ về ông là nghĩ về sự kết hợp thành công giữa một nội dung vừa dân tộc vừa hiện đại, trong một hình thức vừa quen thuộc vừa đổi mới./.