
Võ Huy Tâm đã đi suốt một hành trình sóng đôi của người thợ và người viết văn; một cuộc đi dẻo dai, chung thủy gần 50 năm. Từ buổi khởi hành cho đến nay, quý biết bao, ở ông, vẫn chất thợ của người công nhân mỏ; vẫn một sự giản dị, khỏe chắc trong từng hình ảnh, từng mảng đời ông dựng lên; vẫn một của kho có chỗ vơi chỗ đầy, nhưng mục tiêu theo đuổi thì không bao giờ thay đổi.
Tác phẩm chính, dày dặn của Võ Huy Tâm sau Vùng mỏ (1951) gây một tiếng vang rộng rãi, nhiều lời khen, và cả sự chê trách một số mặt còn chưa đạt, là Những người thợ mỏ (1961). Cũng có thể nói tất cả sáng tác của Võ Huy Tâm trong hành trình gần 50 năm qua là viết về “những người thợ mỏ”. Quan sát gương mặt, hành trang, hoạt động, bước đi của thế giới nhân vật của ông, ta có thể ít nhiều hình dung bước đi của đất nước trên từng chặng đường gian lao, vất vả nhằm mục tiêu chung là giải phóng con người ra khỏi mọi tầng áp bức, và ra khỏi sự nghèo đói lưu niên. Mục tiêu ấy là sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đã từng bước được thực hiện trên miền Bắc từ buổi đầu những năm 1960...
Là người thợ, sống và viết cùng người thợ, sáng tác của Võ Huy Tâm đã góp phần cho ta hình dung về giai cấp công nhân Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc thù. Đó là giai cấp công nhân trong một cuộc chiến đấu kéo dài nhằm giải phóng dân tộc, trước khi nói đến giải phóng lao động và sức sáng tạo của lao động. Ở đây ta chứng kiến một “nghịch lý”: Nói giai cấp công nhân là nói đến sự gắn bó với một phương thức sản xuất tiên tiến, và để sáng tỏ điều đó, cần gắn gương mặt của họ với vẻ đẹp của lao động, với khả năng trang bị các kiến thức khoa học kỹ thuật, và “tay nghề”. Nhưng hoàn cảnh nước ta, trong giao điểm giữa hai thế kỷ XIX và XX, tính từ buổi khai sinh đến nay, giai cấp công nhân lại là một tầng lớp đau khổ nhất; bởi họ không phải là sản phẩm của công nghiệp hóa, mà là sản phẩm của thực dân hóa. Do vậy phẩm chất tích cực, cách mạng ở họ lại được xác định ở mặt ngược lại. Đó là sự đình công, lãn công, phá máy móc, gây đình trệ cho sản xuất... Những hoạt động đó trở thành chất liệu quan trọng để hoàn chỉnh bức tranh toàn dân kháng chiến, bắt đầu từ 1945, và kết thúc, trên miền Bắc ở thời điểm 1954.
Trên nhận thức này chúng ta đánh giá cao đóng góp tích cực của tiểu thuyết Vùng mỏ - tác phẩm đầu tay của Võ Huy Tâm, trong đó gương mặt người công nhân Việt Nam đã được tác giả khắc họa trong tình cảnh đau khổ, trong tình hữu ái giai cấp và mối quan hệ gắn bó với nông thôn, trên bức tranh mở rộng của đấu tranh giai cấp, hòa vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc.
Ở bức tranh “vùng mỏ” đó, tác giả chú ý tập trung ánh sáng vào một điểm tụ: Đình công; nó cũng chính là tiêu đề cho phần phác thảo đầu tiên, được triển khai thành truyện Vùng mỏ.
Từ các hoạt động đình công, phá hoại sản xuất. đến sự mở rộng bức tranh lao động, sáng tạo, đó là sự phát triển nhận thức gương mặt người công nhân Việt Nam. Quá trình đó chỉ có thể diễn ra trên bối cảnh một nửa đất nước được giải phóng, và đi những bước đầu vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Bộ truyện mới xong tập I, có tên Những người thợ mỏ, chính là sự tiếp tục gần như đương nhiên của Võ Huy Tâm trên con đường sáng tác, và khẳng định một trong những đóng góp có ý nghĩa mở đầu của ngòi bút ông: Sự khám phá vẻ đẹp và chất thơ của đời sống lao động.
Những trang viết về lao động trong Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm có thể xem là những trang hay, góp một sắc thái mới, một vẻ lạ vào bức tranh chung của buổi đầu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong mở đầu thập niên 1960.
Thật ra vẻ đẹp của lao động sáng tạo, của ý thức làm chủ đất nước, gắn với gương mặt người công nhân được giải phóng, đó cũng là mục tiêu theo đuổi không riêng của Võ Huy Tâm, mà còn là của cả một đội ngũ những tên tuổi như Huy Phương, Xuân Cang, Lê Minh... Rồi sẽ còn nhiều cây bút khác xuất hiện vào những năm tháng tiếp theo, có khả năng vươn lên xa hơn nữa trong yêu cầu nắm bắt những vẻ đẹp mới ở người công nhân, vừa là sản phẩm của quan hệ sản xuất mới, đồng thời là sản phẩm của cách mạng khoa học kỹ thuật, như Lê Phương, Nguyễn Quang Thân, Tô Ngọc Hiến, Tùng Điển... Nhưng vị trí mở đường vẫn dành cho Võ Huy Tâm, người thợ viết văn, ngay cả khi đã thành người viết chuyên nghiệp, vẫn không ngừng gắn bó với đời thợ.
Từ Vùng mỏ đến Những người thợ mỏ, đó là kết quả sự chuyển biến trong nhận thức của người viết trước chân dung người thợ. Đối tượng mới này vẫn chưa trở nên xa lạ với Võ Huy Tâm. Hình ảnh người công nhân thuộc nhiều lứa tuổi như Quyết, Dần, Sen, Thề, Nụ, bác Khổn... được Võ Huy Tâm miêu tả với những dáng nét riêng khá đậm, và với tất cả niềm yêu mến, đôi khi đến như thiên vị. Ông không thiếu vốn, khi đi vào các quan hệ nhiều mặt phức tạp của vùng mỏ sau ngày giải phóng, cũng như đi vào cuộc đời riêng không hiếm những tình huống éo le. Bức tranh mỏ của Võ Huy Tâm do vậy rất giàu lượng tin về các mặt sống xã hội, tâm lý, phong tục, chuyên môn, nghề nghiệp... của một vùng đất “mới”, nhưng lại có cuống nhau gắn rất bền chặt với nông thôn. Chính sự phong phú chất liệu đó khiến cho những trang truyện của Võ Huy Tâm thật sinh động, không sa vào tình trạng gầy guộc, vốn là hậu quả của bệnh sơ lược từng có lúc ngự trị trong đời sống văn học những năm trước và sau thời điểm 1954.
Nhưng nếu như sự giàu có chất liệu sống vùng mỏ vẫn còn là chỗ mạnh của Võ Huy Tâm hiếm có ai theo kịp, thì cái phần còn yếu ở ông lại là khả năng xâu chuỗi, đúc kết, khả năng xoáy sâu làm cho nổi lên hình thái cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường ở vùng mỏ, từ sau 1954. Yêu cầu dân chủ hóa sản xuất nhằm phát động và huy động tính tích cực của giai cấp công nhân; cuộc đấu tranh chống các thói tệ quan liêu, mệnh lệnh trong quản lý và lãnh đạo, là vấn đề đặt ra, có lúc nổi lên trong sinh hoạt vùng mỏ. Nhưng từ hình thái chung đó mà soi vào chân dung và các mối quan hệ giữa con người được tác giả phân chia rạch ròi, một cách có phần giả tạo, thành hai tuyến độc lập: Một bên là công nhân với các mặt tích cực gần như bản tính tự nhiên, và bên kia là cán bộ trong mấy khuôn mặt Vĩnh, Nghiêm, Ngoạch... mỗi người một khuyết tật, thì lại không thật ổn. Sự phân biệt đó ít nhiều có phần rơi vào một dạng sơ lược mới, làm hại không ít đến tính chân thực của tác phẩm.
Sự phát triển của đời sống trước yêu cầu của cách mạng khoa học kỹ thuật có lúc vượt khỏi tầm với của Võ Huy Tâm, và đó là chỗ yếu dễ nhận rõ trong các sáng tác của ông từ sau những năm 1970. Nhưng không phải do vậy mà Vô Huy Tâm bỏ cuộc. Trong cuộc chạy đua căng thẳng cần sự dẻo dai này, ông tuy có đuối sức, nhưng không là người bỏ cuộc. Sẽ đến lúc người viết cần cân đong lại các thứ vốn để có cách tính toán khoa học cho các bước đi tiếp của mình. Điều tự nhiên là Võ Huy Tâm sẽ không dốc sức hướng về phía trước, đuổi theo những viễn cảnh tương lai của người thợ, và người thợ tương lai, mà là trở lại “thâm canh” trên những khoảng sống còn dư đầy những ấn tượng, cảm xúc, và kinh nghiệm của mình. Đó là sự trở lại chân dung người thợ mỏ trong cảnh sống tối tăm của xã hội cũ, qua đó mà cho thấy ý nghĩa một cuộc đổi đời từ bản lề cách mạng (Rượu chát). Ông sẽ lại khơi vào những “vỉa than” quen thuộc, bên cạnh người công nhân trong lịch sử còn là một lịch sử có bề dày của người công nhân hiện tại. Một đại gia đình với sự hiện diện bên nhau bốn, hoặc năm thế hệ, từ đời ông, đời cha đến đời con, đời cháu, với sự lưu truyền các giá trị đạo đức, tinh thần... tựa như một “vỉa than lớn” còn rất nhiều trữ lượng, và xếp lớp nhiều tầng (Vỉa than lớn). Gợi ra những đối sánh và với hướng khai thác như trên rõ ràng vẫn là chỗ mạnh của Võ Huy Tâm; chỗ mạnh hiếm ai trong đội ngũ những người viết về giai cấp công nhân hôm nay theo kịp được.
Dựng hình ảnh cuộc sống vùng mỏ và chân dung người thợ mỏ, Võ Huy Tâm là người viết có ý thức và chăm chỉ trau dồi “công cụ” chủ nghĩa của mình. Có thể xem ông là một “pho từ điển” về mỏ, về ngôn ngữ người thợ mỏ. Bị thiệt thòi về cái vốn văn hóa chung, ông như muốn bù lại bằng cái vốn sống thực tế cần lao ngồn ngộn của bản thân mình và nhân vật của mình. Nghe ông kể về cách học chữ, cách tích góp chữ, thấy quả là một công việc kỳ khu. Có lẽ ở khả năng này, cho đến nay, còn hiếm người có được sự cần cù và hiệu quả như ông.
Đội ngũ người viết về công nhân hôm nay đã là một con số thật đông đảo. Nhìn lại hành trình của họ, khi lịch sử đất nước đã chuyển vào thời kỳ đổi mới, dễ nhận rõ Võ Huy Tâm không còn ở vị trí những hàng đầu. Nhưng không phải vì vậy mà vinh quang của người mở đầu không đáng được ghi nhận. Trong cuộc chạy tiếp sức hôm nay, có thể Võ Huy Tâm không thuộc trong số những người đến đích sớm, nhưng ngay ở điểm xuất phát, ông đã giữ một tư thế vững vàng quyết không thua cuộc. Điều cảm động còn là: Trong suốt cuộc đua, ông luôn luôn có mặt cùng đoàn người, không phải như một cổ động viên, mà là một thành viên dẻo dai, bền bỉ./.