Có khác với nhiều người viết thuộc thế hệ ông, Bùi Hiển không có gì bỡ ngỡ lắm trước một cuộc sống có quá nhiều thay đổi của đất nước và quê hương. Trong khi nhiều đồng nghiệp thuộc thế hệ trước và sau ông còn băn khoăn trong những cuộc “lột vở” như Nguyễn Tuân, còn loay hoay trong “nhận đường” như Nguyễn Đình Thi; hoặc còn nhiều khó khăn, chậm chạp trong chọn đề tài và cách viết như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Tô Hoài... thì Bùi Hiển do có hoàn cảnh thâm nhập sớm thực tế chiến trường Bình Trị Thiên nên đã có thể viết thành công bút ký - phóng sự Đánh trận giặc lúa, nói lên những giành giật gian khổ với địch của quân dân Trị Thiên để bảo vệ sản xuất, bám địch giữ làng. Cùng với Đánh trận giặc lúa, được nhận Giải khuyến khích trong Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951 - 1952, là những truyện ngắn khác như Một câu chuyện trong chiến tranh, Người vợ, Gặp gỡ, Ánh mắt... có thể xem là những truyện ngắn hay thời chống Pháp ghi nhận kịp thời những gian khổ, hy sinh của dân tộc, những ấm áp của tình quân dân, tình đồng đội, tình người, dẫu những mất mát và tàn khốc của chiến tranh vẫn không thể làm nguội tắt niềm tin yêu, lạc quan và niềm vui sống...
Cùng với Trận Phố Ràng của Trần Đăng, Làng của Kim Lân, Đôi mắt của Nam Cao, Thư nhà của Hồ Phương... những truyện ngắn trên của Bùi Hiển đã góp phần đưa nền văn học sau 1945 vào một giai đoạn phát triển mới của đất nước, theo định hướng: “Kháng chiến hóa văn hóa và Văn hóa hóa kháng chiến”.
Chuyển sang thời kỳ chống Mỹ, Bùi Hiển vẫn liên tục không ngừng nghỉ, không mệt mỏi cho ra đời những tập truyện ngắn viết về chiến trường và hậu phương - chính trên địa bàn xứ Nghệ và Khu Bốn quê ông, qua 3 tập truyện mà chỉ riêng tên gọi cũng đủ sức gợi dẫn. Đó là Trong gió cát (1965), Những tiếng hát hậu phương (1970), Hoa và thép (1975). Cùng với truyện ngắn là các bút ký, ký sự giàu chất chính luận như Đường lớn (1966)... Trong khi nhiều đồng nghiệp trước và sau ông sớm theo đuổi những tiểu thuyết dài, nhiều tập, nhiều nghìn trang như Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi… thì ông vẫn chỉ chuyên tâm cho truyện ngắn. Trong khi nhiều người thuộc thế hệ ông sớm trở về với những vùng đề tài quen thuộc trong quá khứ tiền cách mạng hoặc lịch sử, thì ông vẫn là người chăm chỉ sống với cuộc sống đương đại, mà không có một lúc nào là người “hoài cổ”. Cái đang diễn ra, cái hôm nay luôn luôn là sức hút, là áp lực, để cho Bùi Hiển, qua truyện ngắn và ký luôn luôn là người của thời sự, của hiện tại. Vượt tuổi 60, rồi 70 và vào 80, khi đất nước chuyển sang thời kỳ Đổi mới, Bùi Hiển vẫn luôn hiện diện như một con người của thời cuộc. Sau 4 tập truyện ngắn và ký xuất hiện trong thời chống Mỹ, ông có tiếp tập truyện Tâm tưởng, in năm 1985. Tiếp đó là tập truyện Ngơ ngẩn mùa xuân, in năm 1992...
Thế nhưng, dẫu có một hành trình viết liên tục như thế, tôi lại có cảm tưởng giới nghiên cứu, phê bình một thời sau Đổi mới có lúc “quên” ông, ít nói đến ông. Và điều đó có lý do. Bởi đó là thời, sau kết thúc chiến tranh năm 1975, vào nửa đầu thập niên 1980, cả đất nước bước vào một cuộc tìm kiếm mô hình phát triển xã hội sao cho hợp quy luật và hợp lòng dân. Từ những bức xúc đó đưa tới con đường tất yếu hướng đến công cuộc Đổi mới, với yêu cầu “cởi trói” và hai phương châm: “Lấy Dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá sự thật, nói rõ sự thật”, làm nên thành công của Đại hội VI - cuối 1986 của Đảng. Và đó chính là cơ sở cho một chuyển động có thể nói là dữ dội trong đời sống văn học, với những tên sách gây chấn động một thời như Thời xa vắng của Lê Lựu, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp,... Còn Bùi Hiển, với Tâm tưởng thì quá.. hiền lành! Và có vẻ như.. xa thời cuộc, khác với các tên truyện trước đây trong hai cuộc kháng chiến của ông. Chỉ có một truyện trong tập Tâm tưởng mang tên Cái bóng cọc là có gây được một ít dư luận. Đó là chuyện tác giả kể về một ông già, có vẻ là cán bộ về hưu, ham luyện khí công, đứng và ngồi đều bất động như một “cái bóng cọc” hàng giờ, không để ý, không liên quan gì với một vòi nước bên cạnh xả nước ồ ồ. Một cái nhìn phê phán... nhẹ nhàng cách sống cá nhân, không quan tâm đến ai, ngoài bản thân!
Cũng như vậy, Ngơ ngẩn mùa xuân, in năm 1992, với truyện ngắn được chọn làm tên chung cho tập truyện kể câu chuyện một nhân vật mãi đến tuổi ngoài 40 mới gây dựng nổi một mái ấm gia đình. Trong khi năm 1992, trước và sau đó là những năm văn đàn sôi nổi những tranh luận chung quanh ba tiểu thuyết được Giải của Hội Nhà văn Việt Nam là Nỗi buồn chiến tranh (hoặc Thân phận tình yêu) của Bảo Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng.
Hiện diện thường xuyên cùng đồng nghiệp gồm nhiều thế hệ và bạn đọc - đó là nét đặc trưng đời văn thọ chẵn 90 năm tuổi đời của Bùi Hiển. Có nghĩa là gần như lúc nào Bùi Hiển cũng có mặt trong mọi chuyển động của văn học thế kỷ XX. Ngoài 15 tập truyện ngắn và ký xuất hiện từ 1941 đến 1992, là các văn bản dịch, qua tiếng Pháp, các tác phẩm của Fadeyev, Anna Segher, Makins, Farrère... Bên cạnh đó, còn là văn học viết cho thiếu nhi, với Con chuột mù, Phép lạ (trước 1945), Bên đồn địch, Quỳnh xóm cháy.
Cũng cần phải kể thêm một tập tiểu luận - hồi ký có tên: Hướng về đâu văn học, ấn hành năm 1996. Ở tập sách này, nội dung đáng lưu ý là những hồi nhớ, kỷ niệm của ông trong đời viết, và chân dung một số bạn bè, đồng nghiệp như Đặng Thai Mai, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Chu Văn, Phan Tứ... Còn về lý luận, xem ra không phải là hướng quan tâm lớn của ông, dẫu có một bài viết 5 trang được chọn làm tên chung cho cả tập: Hướng về đâu văn học? Một bài viết ngắn, so với nhiều bài khác, ít có liên quan đến yêu cầu tổng kết và định hướng cho một nền văn học mới mang tên hiện đại, có lịch sử ngót hai phần ba thế kỷ, bây giờ đang đi vào thời hội nhập.
Một tấm gương lao động bền bỉ, một cây bút giữ được sự hiện diện thường xuyên trong đời sống văn học qua tất cả các chặng đường thế kỷ XX - đó là chân dung Bùi Hiển theo cách hình dung của tôi, một chân dung có tuổi thọ 90 và tuổi nghề ngót 70. Một bền bỉ và một hiện diện hiếm có, ít nhất là trong so sánh với những tên tuổi thuộc thế hệ ông, trừ một vài “đại thụ” như Nguyễn Tuân, Tô Hoài...