90 Chân dung văn hóa
Xuân Diệu – Nhà thơ của Thơ mới, học giả của di sản cổ điển (Phần 2)
Không chỉ đắm say với thơ tình và cảm xúc nhân sinh, Xuân Diệu còn là người mê đắm ngôn ngữ – từ từng chữ, từng vần cho đến cả một hệ thống tư tưởng văn chương dân tộc. Hành trình của ông qua thế giới chữ và nghĩa – từ Truyện Kiều đến Quốc âm thi tập, từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương – không chỉ là cuộc khám phá học thuật mà còn là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với tiếng Việt, với hồn cốt văn hóa Việt Nam.
Xuân Diệu – Nhà thơ của Thơ mới, học giả của di sản cổ điển (Phần 1)
Không chỉ là "ông hoàng thơ tình", Xuân Diệu còn để lại một di sản học thuật đồ sộ với bộ sách Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (2 tập, 1981–1982). Công trình này không chỉ khẳng định tầm vóc một học giả lớn mà còn góp phần dựng nên một hình ảnh trọn vẹn về một Xuân Diệu vừa là thi sĩ, nhà nghiên cứu, dịch giả, vừa là người kết nối sâu sắc với các đỉnh cao văn chương dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương...
Đinh Gia Trinh và di sản phê bình văn học 1941–1945 (Phần 3 và hết)
Đinh Gia Trinh đặt nhiều mối quan tâm vào sự phát triển của văn học dân tộc, vào tính cách Việt Nam của văn học dân tộc.
Đinh Gia Trinh và di sản phê bình văn học 1941–1945 (Phần 2)
Khoảng lùi lịch sử và sự phát triển của chính khoa nghiên cứu và phê bình văn học sẽ cho ta một nhìn nhận biện chứng về mối quan hệ giữa đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa, tinh thần. Để thấy sức sống dân tộc, ý thức dân tộc và những khao khát cho sự tiến bộ của xã hội và của chính bản thân văn chương học thuật luôn luôn là nguyên cớ cơ bản tạo nên các giá trị - những giá trị dẫu có lúc bị lu mờ, bị bỏ quên hoặc bỏ qua, thậm chí bị phủ nhận rồi thời gian vẫn có cách giúp cho sáng tỏ.
Đinh Gia Trinh và di sản phê bình văn học 1941–1945 (Phần 1)
Sinh 15/12/1915, mất 26/12/1974, nhà trí thức- Luật gia Đinh Gia Trinh nhiều năm hoạt động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vào những năm sáu mươi, thế hệ chúng tôi được biết đến ông qua một số bài nghiên cứu về văn học Pháp đăng trên Tạp chí Văn học như bài viết về Louis Aragon... Nhưng văn học xem ra đối với ông lúc này chỉ là việc làm tay trái của một luật gia.
Nguyễn Khắc Viện: Người bác sĩ không hành nghề, nhưng chữa lành tâm hồn một dân tộc (Phần 5 và hết)
Thật là sáng sủa, không có chút khuất tối hoặc mờ nhòa nào trong con người kẻ sĩ, người trí thức chân chính ở Nguyễn Khắc Viện. Chúng tôi “đọc” thấy và “nhìn” thấy cốt cách ấy nơi ông trong suốt hành trình đến tuổi 84.
Nguyễn Khắc Viện: Người bác sĩ không hành nghề, nhưng chữa lành tâm hồn một dân tộc (Phần 4)
Nguyễn Khắc Viện – một kẻ sĩ hiện đại, sống giản dị, không màng danh lợi, từng từ chối cả bằng Tiến sĩ danh dự lẫn tiện nghi vật chất. Ở ông, sự sâu sắc, hài hước và tinh thần tự do kết tinh trong một đời sống đủ – sống có ích đến phút cuối cùng.
Nam Cao: Nhà văn của những phận người “sống mòn” và ám ảnh thời đại (Phần 3 và hết)
Từ nhà văn sống mòn giữa thời loạn, Nam Cao hòa mình vào cách mạng với ngòi bút làm vũ khí. Mười năm viết, mười năm sống hết mình cho dân tộc, ông để lại phù điêu bất hủ trong văn học hiện thực Việt Nam hiện đại.
Nam Cao: Nhà văn của những phận người “sống mòn” và ám ảnh thời đại (Phần 2)
Với Chí Phèo và Sống mòn, Nam Cao không chỉ khắc họa số phận người nông dân và trí thức nghèo mà còn tạo nên một thế giới văn chương độc đáo, đầy ám ảnh và trường tồn trong dòng văn học hiện thực Việt Nam.
Nguyễn Khắc Viện: Người bác sĩ không hành nghề, nhưng chữa lành tâm hồn một dân tộc (Phần 3)
Chung quanh nghị lực sống và ý chí sống này ở Nguyễn Khắc Viện còn biết bao điều để nói. Tôi được biết ông đã phải chịu đựng một năm tròn không nói, để làm một người câm, vì có lúc phép chữa lao đòi hỏi thế. Im lặng và thở nhẹ, không phải để đi vào giấc ngủ, mà để đi vào sự tồn tại, sự sống, sự hoạt động vốn là hằng thường của đời người mà lại quá bất thường, thậm chí là nghiệt ngã đối với ông. Không nói, rồi ít nói; lại phải nói nhẹ nhàng, đủ hiểu; mọi cử động bản thân đều phải tiết kiệm vì thiếu thở, vì lúc nào ông cũng phải tập thở - tổng gộp âm và lượng nói của ông trong suốt cả đời quả rất ít so với người đời; nhưng ông đã nói được bao điều không chút nhàm tẻ...
Nguyễn Khắc Viện: Người bác sĩ không hành nghề, nhưng chữa lành tâm hồn một dân tộc (Phần 2)
Trong con người hom hem vì bệnh trọng và sức yếu lại là một người rất ham mê thể thao. Một ý chí và một niềm ham say luôn luôn dồi dào, không nản mỏi trong suốt cuộc đời ngoài tuổi 80 của mình.
Nguyễn Khắc Viện: Người bác sĩ không hành nghề, nhưng chữa lành tâm hồn một dân tộc (Phần 1)
Tôi rất mong được viết về bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từ nhiều năm nay; nhưng tất cả những dịp quan trọng đều đã qua đi: Ngày sinh nhật lần thứ 75 rồi 80 của ông. Ngày ông được nhận Giải thưởng lớn về Pháp ngữ (Grand prix de Francophonie) của Viện Hàn lâm Pháp năm 1992. Ngày ông qua đời. Rồi ngày giỗ đầu... Nỗi băn khoăn chưa viếto được về ông cứ như một món nợ lòng. Tôi hiểu vì sao tôi cứ phải lần lữa vậy!
Nam Cao: Nhà văn của những phận người “sống mòn” và ám ảnh thời đại (Phần 1)
Từ một bản thảo suýt bị vứt vào sọt rác, Nam Cao đã viết nên "Chí Phèo" – kiệt tác mở đầu cho hành trình ngắn ngủi nhưng rực rỡ của một nhà văn hiện thực xuất sắc, sống trọn với nghề dù chưa kịp hưởng vinh quang khi còn sống.
Xuân Diệu - Mùa xuân và Tình yêu
Xuân Diệu, với xuân - có thể hiểu là mùa xuân mà không cần suy diễn - ông sinh vào mùa xuân cách đây đúng 79 năm: Tháng 2-1916.
Thanh Châu: Một đời văn lặng lẽ trong dòng chảy văn học hiện đại (Phần 3 và hết)
Bị cuốn vào sóng gió văn nghệ sau 1954, Thanh Châu – cây bút lặng lẽ của trào lưu lãng mạn – đã ngừng viết khi chưa tròn năm mươi. Hơn bốn mươi năm lặng im, ông vẫn giữ nguyên lòng yêu nghề, như một chứng nhân lặng thầm của thế hệ vàng văn chương hiện đại.
Thanh Châu: Một đời văn lặng lẽ trong dòng chảy văn học hiện đại (Phần 2)
Thế giới nhân vật truyện của Thanh Châu có phần giống như Ngọc Giao - đó là tầng lớp trung lưu ở đời sống thành thị; những sinh viên, công chức, nghệ sĩ (thường là họa sĩ) với hoạt động nghề nghiệp của họ.
Trương Tửu, Người mở lối cho khoa học văn học Việt Nam (Phần 4 và hết)
Trong công trình mới, Trương Tửu vẫn tiếp tục vận dụng và càng quán triệt hơn sự phân tích giai cấp và quan điểm duy vật lịch sử trong tìm hiểu giá trị tác phẩm.
Trương Tửu - người mở lối cho khoa học văn học Việt Nam (Phần 3)
Sau 1954, ở trường đại học, Trương Tửu viết tiếp hai công trình quan trọng. Đó là Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (Nxb. Xây dựng; 1956) vốn là đề tài ông theo đuổi rất say mê từ trước 1945. Và một khởi thảo, nghiêng về lý luận và phương pháp luận cho việc viết lịch sử văn học trong Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam (Nxb. Xây dựng; 1958).
Trương Tửu - Người mở lối cho khoa học văn học Việt Nam (Phần 2)
Trở lại thời kỳ đầu sau Cách mạng tháng Tám của Trương Tửu, với chủ trương Tân văn hóa và với việc công bố Tương lai văn nghệ Việt Nam. Gần như ngay lập tức Hội văn hóa cứu quốc có bài phê phán Trương Tửu, trong đó có sức nặng nhất là bài của Thanh Bình (tức Đặng Thai Mai) đăng trên 3 kỳ Tiên phong.