Nói Phạm Huy Thông là nói nhiều nhà trong một nhà. Trước khi mất, vào tháng 6 năm 1988, ở tuổi 72, ông là Viện trưởng viện khảo cổ kiêm Phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam. Những năm sau Hòa bình lập lại - 1954 ông là Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp ông hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Pháp, tham gia Đảng Cộng sản Pháp; từng có lúc là Thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - khi Người sang thăm Pháp năm 1946, và tham gia phái bộ Phạm Văn Đồng ở Hội nghị Fontainebleau. Trước 1945, ở tuổi trong ngoài 30 ông là sinh viên du học ở Pháp, nhận nhiều bằng, gồm cả Tiến sĩ và Thạc sĩ trên các lĩnh vực luật học, sử học và văn chương. Trước khi du học, ở tuổi 20, ông đã có bằng Cử nhân Luật. Và, rất đáng lưu ý, trong thời gian từ 1932 đến 1937, ông đã tham gia vào một phong trào sáng tác văn học rất có ý nghĩa trong lịch sử văn chương và lịch sử thơ ca Việt. Đó là phong trào Thơ mới.
Thơ mới ra đời bằng bài thơ Tình già của Phan Khôi, đăng trên Phụ nữ tân văn số ra ngày 10-3-1932, rồi nhanh chóng nhập cuộc văn đàn, và chiếm ưu thế trong chiến đấu với thơ cũ vào nửa đầu thập niên 1930, để vào nửa sau là toàn thắng, là chiến thắng triệt để, rồi đi vào thoái trào vào nửa đầu thập niên 1940. Tất cả chỉ trên 10 năm cho sự phát triển một phong trào thơ, nó là kết quả của yêu cầu hiện đại hóa; của con đường văn chương Việt và thơ ca Việt tham gia và hội nhập vào thế giới hiện đại; của sự phát triển từ ý thức cộng đồng với chủ thể là cái Ta vốn ngự trị trong thơ cổ điển Việt Nam hàng nghìn năm cho đến đầu thế kỷ XX - với những đại gia tiêu biểu cuối cùng là Nguyễn Khuyến, Tú Xương... sang chủ nghĩa cá nhân với chiến thắng của cái Tôi qua người phát ngôn đầu tiên là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu; để – cuối cùng là sự xuất hiện cùng một lúc nhiều chục gương mặt thơ tiêu biểu, với phong cách cá nhân rất rõ nét, nó là cái đích cao và xa cho bất cứ thời nào của lịch sử văn học dân tộc và nhân loại.
Mười năm, từ 1932 đến 1942, khi sách Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân ra đời, như một tổng kết tuyệt vời về hành trình và thành tựu của phong trào Thơ mới, nó là Một thời đại trong thi ca như tên bài Mở đầu. Một cuốn sách có giá trị thế kỷ như sự khẳng định trong một Hội thảo do Viện Văn học chủ trì, vào ngày 27-3-1992, nhân Kỷ niệm 10 năm ngày mất của Hoài Thanh, và 50 năm Thi nhân Việt Nam.
Mười năm phong trào Thơ mới, với 45 chân dung được chọn tuyển và bình trong sách Thi nhân Việt Nam, trong đó có Huy Thông.
Mười năm, ở chặng đầu của nó (1932-1936) là sự xuất hiện của Huy Thông, một xuất hiện rất mới mẻ, rất ấn tượng, như được ghi nhận trong một đoạn văn ở bài Mở đầu của Hoài Thanh:
“Tôi quyết rằng trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.
Ở đây chỉ 8 nhà thơ được Hoài Thanh chọn và định danh một nét nổi trội, đặc sắc trong cá tính thơ, với Thế Lữ là rộng mở, với Lưu Trọng Lư là mơ màng, với Huy Thông là hùng tráng, với Nguyễn Nhược Pháp là trong sáng, với Huy Cận là ảo não, với Nguyễn Bính là quê mùa, với Chế Lan Viên là kỳ dị; còn riêng Xuân Diệu là gồm cả ba: thiết tha, rạo rực, băn khoăn...
Tất nhiên, đúng như lời rao đồn của Hoài Thanh: Đây là so thời với thời, chứ không phải so người với người. Bởi nếu so người với người thì với Nguyễn Du là không ai so sánh được.
Trở lại với khái quát trong đoạn văn trên của Hoài Thanh, quả thật là đúng cho từng người. Nó cho ta hiểu: Từ điểm xuất phát ngay từ chặng đầu, phong trào Thơ mới đã đem lại cho thi đàn Việt Nam trước 1945 và suốt cả thế kỷ XX 5 đại thụ: Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính; chỉ riêng Thế Lữ, Lưu Trọng Lư và Huy Thông là một sáng chói trong khởi động ở thời kỳ 1932- 1936; còn từ sau 1936 thì Thế Lữ và Lưu Trọng Lư sẽ chuyển dần sang sân khấu và Phạm Huy Thông hướng vào các lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn...