
Sau thế giới nhân vật, điều thật sự gây hấp dẫn trong văn Ma Văn Kháng, đối với tôi, đó là dòng đời. Với Ma Văn Kháng, đó là những dòng đời chảy trôi hồn nhiên, tự nó, đầy bất ngờ, khó ai có thể hình dung, không ai có thể can thiệp, kể cả tác giả.
Với tiểu thuyết, đó là những dòng đời chảy trôi theo nhiều ngả, có cả dòng trong và dòng đục; dòng trong cho ta cảm giác bình yên, tin cậy; và dòng đục thì đây rác rưởi, bèo bọt khiến ta lo lắng nhưng không thể làm ngơ. Với truyện ngắn, đó là cách Ma Văn Kháng xắn lấy một mẩu, cắt lấy một góc, bắt đầu từ một lời thoại, hoặc một lối kể, không cần có đầu có đuôi; rồi lập tức cuốn ta vào truyện. Nhưng lạ thay, chỉ với một nhát cắt, anh vẫn có thể đưa ta vào cả một thế giới, có đầu và cuối, có nhẩn nha và kịch biến, có mạch chìm và mạch nổi. Nhân vật thì ai làm việc nấy, ai nói lời người ấy, để đến với một kết thúc thường là bất ngờ, đầy ngẫu nhiên, và cứ như là “ngẫu sự” (cái chữ “ngẫu sự” này tôi thường gặp nhiều lần trong các truyện ngắn của anh). Và ở những “ngẫu sự” ấy, Ma Văn Kháng như muốn nói với chúng ta: Cái gì cũng có thể xảy ra trên cõi đời này. Và xảy ra không theo một quy trình có sẵn nào, một cách sắp xếp quen thuộc nào. Trong dạng phổ biến của nó, đó là một kết thúc mang tính “ngẫu sự” như chính một tên truyện ngắn của anh. Ngẫu sự - chuyện của hai cặp nhân tình, (thuộc môtíp “gian phu dâm phụ”), tìm được phương thức sống an toàn bên nhau, ông ăn chả bà ăn nem, cả đôi bên đều vui vẻ, ngon lành mà chẳng cần phải kết thúc bằng một cảnh xô xát rồi tan vỡ theo lối cổ điển. Cũng như vậy trong Người giúp việc. Sự thương cảm đến mủi lòng, sự chia sẻ thật thành tâm đến rưng rưng với nguy cơ bị loại thải của một bà giúp việc già lão, hóa ra rồi bị hẫng, bởi bà đã quá quen với sự nhẫn nhục, và quá quen với nghề nghiệp đi... hầu người. Đời của hai nhân vật chính trong Tóc Huyền màu bạc trắng là cả một lịch sử được xâu chuỗi bởi biết bao là ngẫu nhiên bất hạnh mà khởi đầu chỉ là một cái nhìn nghi ngại, huyền hồ của một vị lãnh đạo cấp rất cao, bởi qua con mắt của ông thì anh ta hơi bị giống với một viên quản giáo hồi ông bị chính quyền thực dân cầm tù, khiến cho tổ chức an ninh phải cảnh giác, và anh rồi phải vào tù. Trong Anh thợ khóa, hai người đàn bà cùng gắn số phận mình với một “anh thợ khóa” tài hoa, bất hạnh tưởng sẽ là đối thủ một mất một còn của nhau, hóa ra rồi xem nhau như hai chị em ruột thịt. Và đó cũng là kết thúc ở cái truyện xuất hiện gần đây nhất trên phụ san Văn nghệ số Tết Ất Dậu: Cây bồ kếp lá vàng... Tưởng đâu tác giả và chúng ta sẽ được chứng kiến một cuộc ăn nên làm ra thực sự là đổi đời của một người bạn cũ, trước thì lên Tây Bắc, còn bây giờ thì vào Tây Nguyên lập nghiệp, nếu tin vào những bức thư anh ta gửi. Thế mà đến khi gặp lại nhau, thì hóa ra anh ta chỉ là một kẻ lẩn thẩn, thân tàn ma dại, vân vân... Cái tưởng là thế mà hóa ra không phải thế là cách Ma Văn Kháng quen dẫn dắt người đọc. Và như vậy ở đây ta được chứng kiến một cuộc gặp gỡ ngoạn mục giữa phát hiện nghệ thuật và tổng kết triết học: cái tất nhiên đi qua cái ngẫu nhiên. Đúng như ý tưởng của bậc thầy Balzac: “Cái ngẫu nhiên là nhà tiểu thuyết vĩ đại nhất trên đời”. Nghệ thuật muốn làm mới đầu óc con người, phải tránh những lối mòn. Phải tìm cho được cái có một, cái có tính ngẫu nhiên, cái không ai ngờ được, để thoát khỏi sự trơ lỳ trong quán tính tiếp nhận của người xem, mà đến được cái có tính quy luật của dòng sống và đời người.
Hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết' trên một hành trình dài, dẫu có lúc ngôn ngữ chính luận như tràn lấn (chẳng hạn trong Đám cưới không có giấy giá thú), nhưng vẫn không làm thay đổi, biến dạng tiếng nói nghệ thuật đích thực trong tác phẩm Ma Văn Kháng. Một tiếng nói nghệ thuật từ chính cuộc đời trần trụi, xù xì, thô nhám, đa sự cất lên; và lắm khi tác giả cũng không cần phải đóng vai trò khách quan để cho “sự thật tự nó nói lên” theo kiểu Balzac, Tolstoi mà cứ đàng hoàng cất lên tiếng nói riêng để khơi gợi sự đồng tình hoặc tranh luận nơi người đọc. Và dường như anh đã gây được hiệu quả ấy với tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, là cuốn sách vừa mới ra đời đã lập tức gây nên sự tranh luận, ai khen thì khen tới số, ai chê thì chê hết lời.
Như tên bài tôi đặt: Trữ lượng Ma Văn Kháng; cũng có nghĩa là tôi chưa muốn có một kết luận gì về Ma Văn Kháng ở thời điểm này, khi anh đang còn sức viết, khi thỉnh thoảng gặp nhau vẫn là một Ma Văn Kháng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, khẩn trương; khi qua điện thoại vẫn là những lời thoại nồng nhiệt, với liên hồi những hưởng ứng: “Đúng! Đúng! Đúng!” trong đồng tình hoặc phản đối. Tóm lại, anh vẫn là một người rất nhập cuộc, có nhiều đau đời nhưng không yếm thế. Anh vẫn là người của những yêu - ghét rành rõ, của một ý thức công dân tích cực. Chính vì ý thức công dân ấy, nên anh mới quan tâm đến cái xấu, cái ác một cách riết róng như thế. Và ở đây ta gặp được một ý tưởng sâu sắc của Marx về sự cần thiết phải làm cho sự nhục nhã càng thêm nhục nhã hơn bằng cách công bố sự nhục nhã đó. Nhưng sự thật thì Ma Văn Kháng cũng là người rất có ý thức chăm lo cho thế giới nhân vật chính diện. Và nhân vật chính diện của anh cũng rất giàu sức chống trả. Chống trả với sự bền bỉ và sáng láng của thiên lương, như nhân vật người bà đóng cả hai vai bà nội và bà ngoại trong Côi cút giữa cảnh đời. Chống trả trong vật vã nội tâm và không cam chịu thất bại về tinh thần như nhiều gương mặt trí thức từ Mưa mùa hạ đến Ngược dòng nước lũ. Có lúc anh còn cho tham gia vào hàng ngũ nhân vật chính diện một chú chó Bi khôn ngoan và có nghĩa.
Cố nhiên, khi viết Trữ lượng Ma Văn Kháng, tôi cũng biết cái khó của anh, khi lịch sử viết đã có một bề dày 44 năm, nếu tính từ truyện ngắn đầu tay Phố cụt (1961), 37 năm nếu tính từ truyện ngắn được giải Sa phủ (1968), hoặc 23 năm nếu tính từ tiểu thuyết Mưa mùa hạ (1982). Một lịch sử viết dẫu có chia ra hai chặng thì cả hai vẫn đều là dài, nếu so với các bậc tiền bối trước 1945. Khái Hưng, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng... chỉ có lịch sử viết trên 10 năm. Thạch Lam, Nam Cao hơn 5 năm. Nhiều người khác cũng chỉ trên dưới 15 năm. Dầy về lịch sử cũng có nghĩa là có một quá khứ ăn theo khá nặng. Vượt ra khỏi cái bóng rợp của mình không phải là dễ. Và, cái khó còn là ở chính cái sự sống đang đổi thay rất nhanh chóng trước mắt chúng ta, chung quanh ta. Cái sự sống của một thế giới nhân vật gần như là xa lạ, thậm chí không còn chút duyên và nợ gì với toàn bộ thế giới nhân vật cũ lẳng đẳng đi suốt chiều dài hơn nửa thế kỷ, đến nhẵn mặt với số đông người đọc chúng ta. Cái thế giới đang chuồi dần ra khỏi tầm quan sát của số rất đông người viết, mà chưa mấy ai hiểu nó, chứ không nói là “đi guốc vào bụng nó” như kiểu Balzac với lão hà tiện Gorio. Hoặc “hóa thân” vào nó một cách tuyệt đối, như G. Flaubert trong Bà Bovary, đến mức tác giả có thể trả lời: “Emma - chính là tôi”; đến mức khi để Emma chết ông có cảm tưởng như đang ngậm thạch tín trong miệng. Một thế giới có ngôn ngữ riêng của nó mà số người đọc được nó, đối thoại được với nó, tuy đã thấy xuất hiện đâu đó ở một lớp người viết trẻ, nhưng vẫn chỉ là đếm được trên đầu ngón tay. Họ chưa đủ là một đội ngũ, một lực lượng, để hình thành một thế trận hoành tráng, như đã có thời văn học hiện đại chúng ta có được, như thời 1930 - 1945, thời 1960 - 1975, và thời trên dưới 10 năm trước và sau khởi động của công cuộc đổi mới vào cuối năm 1986 - mà Ma Văn Kháng thuộc trong số người đứng ở vị trí tiền tiêu. Một thế trận với sự hợp đồng của nhiều binh chủng chữ nghĩa, và với một đội ngũ sung sức trên dưới tuổi ba mươi và chưa đến năm mươi, như đã từng diễn ra chỉ mới hơn hai lần, hoặc dưới ba lần trong thế kỷ XX, như cuộc sống đòi hỏi, và như chúng ta mong đợi.
Tôi nêu vài cái khó như trên, với ý nghĩ đây cũng chỉ là câu chuyện “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”, đối với anh, khi - trong một lần Trả lời phỏng vấn' anh có nói đến cái nỗi lo không biết khoảng mười năm nữa, có còn ai đọc mình nữa không?