Trữ lượng Ma Văn Kháng (Phần 1)

Từ những căn hộ chật hẹp ở khu tập thể Thành Công đến “dòng sông rộng” của đời sống đô thị, ký ức và phê bình đan cài để soi chiếu hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng-một ngòi bút đi qua biến động xã hội để tìm ra giọng điệu riêng, bền bỉ và nhân bản.
Chân dung Ma Văn Kháng – Gương mặt của một nhà văn gắn bó với đời sống cần lao và đô thị chuyển mình. Ảnh: Internet
Chân dung Ma Văn Kháng – Gương mặt của một nhà văn gắn bó với đời sống cần lao và đô thị chuyển mình. Ảnh: Internet

Tôi có nhiều kỷ niệm với anh Ma Văn Kháng, ít nhất là từ vài chục năm nay, kể từ đầu những năm tám mươi, khi tôi được nhận một căn hộ 24 mét vuông ở tầng 4 nhà B5 khu tập thể Thành Công; còn anh, ở tầng 3 nhà B3 ở phía trước, chếch bên trái nhà tôi. Gần như là láng giềng, thỉnh thoảng chúng tôi sang thăm nhau. Cái khu chung cư này đối với tôi có rất nhiều kỷ niệm, bởi sự sống ở một chung cư gồm nhiều dãy nhà 5 tầng gắn với chợ búa, phố xá, vừa là nội thành lại vừa như ngoại thành, nó giúp cho mình gắn sát với đời sống cần lao và giúp mở rộng tầm nhìn. Và còn bởi, sau này đọc nhiều truyện ngắn của anh Kháng tôi thường chỉ nhớ đến chung cư Thành Công như một bối cảnh quen thuộc với những kỷ niệm khó phai. Chẳng hạn chuyện như trong Mất điện là chuyện xảy ra thường xuyên ở nhiều nơi, nhưng chỉ ở những chung cư 5 tầng thì mới có sự cố xảy ra ở cầu thang là nơi có bảng điện và là chỗ giao lưu giữa các tầng. Hoặc đọc Côi cút giữa cảnh đời, tôi cứ thấy tha thẩn đâu đó những mẹ con, bà cháu nơi một cầu thang, một góc chợ, một hẻm phố, bươn chải trong một cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn, cơ cực...

Kỷ niệm còn được bồi đắp cho dày hơn, bởi đầu những năm tám mươi, có một sự cố xảy ra chung quanh cuốn tiểu thuyết mới của anh - cuốn Mưa mùa hạ (1982). Cuốn sách vừa ra đời đã khiến Ma Văn Kháng lo lắng - một mối lo dai dẳng, lâu lâu lại rộ lên trong văn học ta, kể từ sau vụ Nhân văn Giai phẩm, mỗi khi có dư luận từ đâu đó, nhất là từ các cấp trên, hoặc là Ban Tuyên huấn, hoặc là một ông to, cho là “có vấn đề”. Vấn đề - tức là chuyện động đến sự an toàn của xã hội. Tức là khơi quá đậm các mặt tiêu cực khiến cho độc giả nghi ngờ về sự tốt đẹp của chế độ. Thì quả Mưa mùa hạ là một cuốn tiểu thuyết như thế, nó để cho các nhân vật chính diện đều bị chết - người bị lũ cuốn, người chết bệnh. Nó gợi nên sự ví von cái tổ mối làm hại thân đê cũng như một thứ tổ mối nào đó làm hại nhân quần. Với Mưa mùa hạ, tôi được chia sẻ nỗi lo của Ma Văn Kháng khi lần đầu tiên anh mấp mé vướng phải một “tai nạn nghề nghiệp”; và tôi đã góp phần cùng anh chọn một cách xử lý thích hợp là tổ chức một cuộc họp ở Viện Văn học vào ngày 21-1-1983, để cho các phía khác nhau giãi bày quan niệm của mình. Và vấn đề đang rất tù mù bỗng trở nên thanh sở. Đó là một cuốn sách tốt ở thời điểm đó: Không tránh né những mặt bê bối của hiện thực, dám khẳng định những mặt tích cực; và cho thấy cuộc chiến diễn ra còn rất gian khổ, sau hai cái chết. Nhiều năm sau nhìn lại mới thấy Mưa mùa hạ, chính là sự mở đầu cho một hệ viết mới của Ma Văn Kháng - gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn, đó là Mùa lá rụng trong vườn (1985), Ngày đẹp trời (1986), Trái chín mùa thu (1988), rồi Côi cút giữa cảnh đời (1989) và Đám cưới không có giấy giá thú (1989). Đó là những tên sách đã đưa anh vào đội ngũ mấy gương mặt tiêu biểu đóng vai trò tiền trạm, báo hiệu cho công cuộc đối mới chính thức mở ra từ nửa cuối những năm tám mươi (thế kỷ XX).

Kỷ niệm giữa chúng tôi “thời gian khổ” - tôi muốn dùng chữ đó - còn nhiều. Đó là những chuyến đi ra vùng than cùng với Xuân Du, Nguyễn Thái Vận, cả hai anh đều đã sớm qua đời. Là cuốn sách hai tập Văn học về đề tài công nhân, Viện Văn học chủ trì theo đặt hàng của Tổng Công đoàn và Nhà xuất bản Lao động mà anh là Phó Giám đốc. Là hoạt động của Hội đồng Văn học công nhân mà chúng tôi cùng là thành viên trong 10 năm, từ 1985 đến 1995. Là những cuốn sách mới vừa in xong, cuốn nào anh cũng tặng vợ chồng tôi. Và điều khiến tôi áy náy là chưa viết cho anh một bài nào cho ra hồn, mặc dù trong đầu nung nấu bao ý nghĩ; và mặc dù luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ về anh do tôi hướng dẫn, hoặc tôi được mời chấm tính ra có đến hàng chục. Thế nhưng chưa bao giờ tôi bảo học viên gửi tặng anh vì cảm thấy tất cả đều chưa đạt được ý nguyện của mình.

Tôi mới chỉ viết cho anh được một cuốn: Côi cút giữa cảnh đời; viết rất nhanh, ngay sau khi được anh gửi tặng, năm 1989; một cuốn sách có nhân vật chính là trẻ con, cho cả trẻ con và người lớn cùng đọc. Một cuốn sách theo tôi đạt đến vẻ đẹp cổ điển, không phải ở bất cứ dụng ý cách tân nào, ở bất cứ dấu vết đi tìm cái mới, cái lạ nào cho sự diễn đạt; mà là đến từ sự sống hồn nhiên, như từ nguồn nước chảy ra là nước. Cuốn sách đưa con người vào giữa dòng sống như nó phải thế, chưa đầy hai trăm trang mà thâu tóm, mà đúc kết, mà gợi nghĩ biết bao là cảnh đời, tình người gần cận quanh ta, và cũng là một phần của chính chúng ta. Anh có nói là anh viết Côi cút giữa cảnh đời như viết về chính gia đình mình và bà mẹ của mình. Còn tôi, tôi cũng nhận ra hình bóng những người mình thương yêu trong đó. Đây là cuốn sách đạt được sự hài hòa tuyệt diệu giữa chất liệu, ý đồ và nghệ thuật thể hiện đến không còn một tơ vương nào của sự ngăn cách giữa ba khu vực đó, mà là một chỉnh thể trọn vẹn, không phải bất cứ cuốn tiểu thuyết nào của Ma Văn Kháng trước và sau nó cũng đạt được.

Còn về truyện ngắn, với tôi, truyện nào của Ma Văn Kháng tôi cũng đều tìm đọc; nếu chưa đọc kịp thì gom vào một chỗ cho dễ nhớ để còn đọc. Có thể nói đến một thương hiệu Ma Văn Kháng từ Mưa mùa hạ trở về sau, làm nên một dấu ấn riêng, khu biệt với nhiều người. Một chất liệu hiện thực kiểu Ma Văn Kháng. Một cách khai thác kiểu Ma Văn Kháng. Một giọng điệu riêng và ngôn ngữ riêng của Ma Văn Kháng, đặc biệt là ngôn ngữ. Nếu muốn tìm đến sự phong phú của ngôn ngữ - áp cận được vào thì hiện tại tôi nghĩ cần đọc Ma Văn Kháng. Và trước đó - Tô Hoài. Đó là hai trong số ít người viết có được cả một kho chữ thật rủng rỉnh để tiêu dùng. Và do có cả một cái kho, nên anh là người không ưa dùng những chữ mòn; và ít khi làm cho mòn chữ. Dẫu là quen hoặc lạ, chữ nghĩa khi đã qua tay Ma Văn Kháng là cứ ánh chói lên cái nội lực bên trong của nó.

Tôi nói từ Mưa mùa hạ bởi trước đó Ma Văn Kháng đã có mấy truyện dài về miền núi. Đã có truyện ngắn Sa phủ được giải và nhiều tập truyện. Nhưng cái làm nên tên tuổi Ma Văn Kháng lúc này mới chỉ là chất liệu, là đề tài. Còn chủ đề và cách viết thì vẫn chưa thể (hoặc không thể) thoát ra khỏi cái khuôn chung của một thời. Phải từ Mưa mùa hạ, tức là hơn 5 năm sau khi Ma Văn Kháng về lại Hà Nội - bản quán của anh, mới có những tín hiệu mới. Có thể nghĩ trước 1975, rồi 1980, anh là người bơi ở suối, hoặc đầu nguồn sông. Suối hẹp, sông cạn, tuy có ghềnh, có thác, nguy hiểm đấy, nhưng khéo chèo lái một chút để không va vào đá thì thuyền mảng cứ việc chảy trôi theo dòng. Còn từ sau 1980 anh đã được bơi trên một dòng sông rộng với trước mặt là biển. Sông và biển, thỏa sức cho người bơi; nương theo dòng chảy thì được an toàn; nhưng nếu là tay bơi có bản lĩnh thì có thể ngược dòng mà bơi - “ngược dòng nước lũ”, để đến với cái đích cần đến.

Biển, trong ví von ở đây, tôi còn muốn hiểu là đời sống thành thị. Ở thời hiện đại này, khi có khẩu hiệu hiện đại hóa gắn với đô thị hóa thì ai rồi cũng mong bởi cho được về thành thị, hoặc phải nhuốm cho được màu thành thị. Đô thị là cuộc sống của các tầng lớp cư dân đến từ rất nhiều nguồn mà anh từng là người sinh ra ở đó, rồi trở nên xa lạ với nó, trong hơn hai mươi năm. Thành thị - nơi thu nhỏ toàn bộ gương mặt xã hội; và trên quá trình đô thị hóa diễn ra gấp rút trong hai thập niên cuối thế kỷ XX, nó cuốn hút gần như tất cả mọi tầng lớp người vào dòng xoáy của nó, trong đó gồm cả số người có gốc gác nông thôn thuần khiết, chất phác nhưng do đất đai thu hẹp và chẳng còn mấy việc làm nên phải thoát ra thành thị bằng bất cứ giá nào. Nhập vào đời sống thành thị, tầm quan sát và khả năng bao quát của Ma Văn Kháng bỗng được mở ra trên một trường diện rất rộng; và thế giới nhân vật của anh bỗng trở nên đông đúc đến chen chúc, khó có thể quy vào các tuyến quen thuộc cũ, theo tiêu chí của tính giai cấp: Giàu và nghèo, ăn bám hoặc lao động, tư hữu hoặc vô sản..., hoặc theo lối phân đôi: Mới và cũ, tích cực hoặc tiêu cực, tiến bộ hoặc lạc hậu, chính diện hoặc phản diện... hiện hữu trong cả một thời gian rất dài...

Khu tập thể Thành Công (thập niên 1980) – Không gian sống 5 tầng, nơi ký ức láng giềng và bối cảnh văn chương hình thành. Ảnh: Tạp chí Kiến thức
Khu tập thể Thành Công (thập niên 1980) – Không gian sống 5 tầng, nơi ký ức láng giềng và bối cảnh văn chương hình thành. Ảnh: Tạp chí Kiến thức

Cái thế giới người đô thị đó không chỉ gồm đám dân lam lũ, thất nghiệp, phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống, trong đó có đám “con sen đứa ở”, “cơm thấy cơm cơ”, hoặc đám anh chị đầu trộm đuôi cướp, do bị tước đoạt đến đầu trần thân trụi nên buộc phải tìm cách tước đoạt lại để giành quyền sống lay lắt cho mình như trong thế giới truyện của Trọng Lang, Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Đình Lạp... trước 1945. Giờ đây, sau một nửa thế kỷ cách mạng, chiến tranh và xây dựng, lớp cư dân thành thị ấy đã có một gương mặt mới. Nó là gồm đủ loại người, chứ không phải chỉ là một tầng lớp được gọi là “dưới đáy”, theo cách gọi của Gorky trong một vở kịch nổi tiếng của ông. Cái thế giới đó ngổn ngang khắp nơi, có mặt trên nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của anh, đụng vào đâu cũng thấy nó, không phải chỉ ở địa bàn Hà Nội, mà còn lấn ra “ngoại thành”; không chỉ ở thành phố mà còn loang rộng ra khắp các thị xã, thị trấn lớn nhỏ, vùng thấp - vùng cao. Bởi đó là xu thế chung của một thời đất nước gấp gáp chuyển sang một nền kinh tế thị trường. Hãy thử xắn lấy một đoạn trong cái truyện viết về một người đẹp là Nhiên - nghệ sĩ múa, với bối cảnh sống chung quanh cô cũng đủ cho ta hình dung cái thế giới lổn nhổn rất lắm gương mặt này: “Nàng tạo nên một không gian hấp dẫn có đường bán kính hai chục mét với tâm điểm là phòng làm việc của ban chúng tôi, bao gồm trong đó gần cận nhất là cái phòng thường trực của cơ quan, chiếc gara ôtô con con, rồi vượt cổng và hàng tường vi, tới các hàng quán lụp xụp, các cửa hiệu mang biển hộp như hiệu ảnh của lão Chiên nghiệp, cửa hàng phôtôcopy của ông Hóa còi, shop quần áo second-hand của Long hói. Xa hơn, phía bên kia đường, còn phải kể đến Tư Thành mắt trõ, mồm rộng, ăn hối lộ bị công đoàn sa thải nay là chủ Green bar, Khoản rỗ nguyên thiếu tá công an mắc tội ổi tiết bị sa thải về, nay mở quán cơm bình dân liền kề với kiốt bưu điện có anh chàng Luyến phó giám đốc mắc bệnh hay sờ soạng chị em, bị điều ra bán tem và bì thư. Bên bọn mày râu thuộc loại tam khoanh tứ đốm, đứt dây trời rơi xuống ấy rất may vì còn có những người lao động hiền lành chân thật. Cụ giáo Điều dạy Vật lý cấp trung học, về hưu giờ bơm xe ở vỉa hè. Anh Trí cận hết nghĩa vụ quân sự trở về, đặt ghế, treo gương chuyên nghề làm đẹp mái tóc cho con người. Ông Liên mở sạp sách báo ngoại văn. Trong cái vòng không gian do Nhiên tạo lập nọ, còn phải kể đến lão Diệc nhân viên thường trực của cơ quan chúng tôi. Lão Diệc là thương binh thời kháng chiến chống Pháp, mất một bàn tay trái và một cẳng chân phải, mồm méo, mắt trũng. Xấu xí, nhưng Diệc là một người đa cảm, tốt bụng. Lão thường giúp đỡ các bà các cô bán hàng rong ở vỉa hè. Một bận, một cô gái nạ dòng người Thạch Thất gánh bún bán rong bị cảnh sát đuổi, dạt vào cổng liền được lão đỡ hai thúng hàng giấu biến vào chiếc gara, còn cô chủ hàng thì được lão dẫn vào buồng riêng của mình”.

Đô thị trong một xứ mà thành phần tiểu nông vẫn còn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế như ở ta - đó là sự ô hợp, sự xen cài, sự manh mún trong một không gian hẹp một quần thể người đến từ nhiều nguồn mà không cần biết đến nhau; sống bên nhau mà không bắt buộc phải có trách nhiệm gì với nhau - để trở thành một kiểu cư dân ngụ cư (như tên một truyện vừa khá hay gần đây của Thùy Dương), nơi mà “sự cao cả, đẹp đẽ và đời sống trần tục thường nhật cứ lồ lộ, tồn tại bên nhau, chẳng bên nào gây tác động được tới bên nào” (Mưa mùa hạ). Lớp người này có nhiều gương mặt nhất, và Ma Văn Kháng, theo tôi là thuộc số ít người đem lại được một chân dung tổng hợp nhất về họ, như một bức sơn dầu, với các mảng khối vạm vỡ, càng lùi xa càng thấy rõ. Và tôi nghĩ, rồi đây, cùng với giá trị chân thực đặc sắc cho một thời - thời của những năm tám mươi, đầu chín mươi thế kỷ XX, sáng tác của Ma Văn Kháng còn tiềm ẩn rất đậm giá trị lịch sử cho lâu dài, như một bộ sử đáng nhớ về một chuyển động lớn của đất nước. Một chuyển động, theo tôi hiểu, mới chỉ diễn ra có hai lần trong thế kỷ XX, sau 10 thế kỳ thời trung đại cơ bản gần như đứng nguyên một chỗ. Lần đầu, khi xã hội thuộc địa hình thành, thay thế dần xã hội phong kiến bế quan tỏa cảng, rồi kết thúc ở thời điểm 1945, trùng khớp với sự kết thúc quá trình hiện đại hóa trong đời sống văn chương - học thuật dân tộc. Và lần thứ hai, khi đất nước hết chiến tranh - một cuộc chiến tranh kéo dài hơn ba mươi năm, để trở lại đời sống bình thường trong sinh hoạt làm ăn, trong mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế, tưởng là thanh bình, yên ả mà hóa ra vô cùng gian khổ, vật vã trong biết bao mô hình đã và đang được thử nghiệm.

Một chuyển động, hoặc một cuộc trở dạ, thì cũng thế.

Một cuộc trở dạ cho một cuộc sinh thành diễn ra sau ngót bốn mươi năm cách mạng và chiến tranh, biểu hiện tập trung nhất là ở địa bàn đô thị cùng với lớp cư dân thành thị (gắn với đô thị hóa, hiện đại hóa); và người cảm nhận rõ nhất nỗi đau sinh thành đó chính là người trí thức.

GS. Phong Lê