Trữ lượng Ma Văn Kháng (Phần 2)

Từ Nam Cao đến Ma Văn Kháng, hình tượng người trí thức trong văn học Việt Nam hiện đại được soi chiếu qua bi kịch thân phận, sự phân hóa và những mảng tối của đời sống thời hậu chiến-nơi thời sự gặp lịch sử trong một chuyển động lớn của xã hội.
Nhà văn Ma Văn Kháng đặt người trí thức vào tâm điểm của chuyển động xã hội hậu chiến. Ảnh: Báo Đại Đoàn Kết
Nhà văn Ma Văn Kháng đặt người trí thức vào tâm điểm của chuyển động xã hội hậu chiến. Ảnh: Báo Đại Đoàn Kết

Nói đến người trí thức trong văn học hiện đại Việt Nam ta thường nhớ đến Nguyễn Huy Tưởng, Thạch Lam, Nam Cao - nhất là Nam Cao. Ma Văn Kháng cũng trở lại mối quan tâm và đề tài quen thuộc của Nam Cao. Thế giới nhân vật của anh cũng gợi nhớ nhân vật Nam Cao; nhưng trên một bình diện khác, một phẩm chất khác do được thụ hưởng một cuộc đổi đời vĩ đại ở thời điểm tháng Tám - 1945. Ở đây không còn là chuyện “sống mòn”, “đời thừa” vừa như là sự phản ánh, lại vừa là sự chống chọi lại một hoàn cảnh mù xám, han gỉ, trì trệ, tù đọng... mà người trí thức, do là nạn nhân, nên chỉ biết có vật vã, rên rỉ mà không thể nào nhận ra kẻ thù đích thực, cụ thể của mình là ai? Còn bây giờ, sau một cuộc cách mạng và hai cuộc chiến tranh, trở về với thời bình lại là một chuyển động, một guồng xoáy, một cơn lốc; và người trí thức, khi trung thành với những hình mẫu cũ (còn hình mẫu mới, đại diện cho một xã hội tương lai thì chưa có) đã vấp phải biết bao bi kịch, bất hạnh trước những thế lực hữu hình hoặc vô hình bủa vây chung quanh họ. Họ thất thế là phải; sa vào bi kịch, bất hạnh là phải. Bởi, cho đến lúc này, họ chưa bao giờ được là một tầng lớp, vì thiếu một cơ sở kinh tế - xã hội làm nền. Cái cơ sở kinh tế - xã hội chỉ mới manh nha trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình bao cấp đã bị chiến tranh chen ngang, rồi bị chững lại bởi bao thử nghiệm, tìm kiếm; phải chờ đến tận cuối thế kỷ XX mới xuất hiện; và như vậy là họ vẫn còn chưa thoát ra khỏi cuống nhau của một cộng đồng cơ bản vẫn còn mang hình hài phong kiến và chế độ tiểu nông gia trưởng. Cái cuống nhau - từ đó đẻ ra các kiểu người được gọi là trí thức theo cách hiểu là có chữ nghĩa, có quá trình đào tạo, để trở thành một khối công nhân viên - cán bộ, nhà giáo, nhà văn, kỹ sư, bác sĩ... nằm trong hệ thống thang bậc của đời sống công quyền, gồm những cán sự - chuyên viên, những bộ, cục, vụ, viện, ban, phòng... trong phân biệt với những người lao động chân tay ít học như công nhân, nông dân hoặc lao động tự do. Tóm lại, dẫu có biến hóa và thay đổi thế nào thì hình hài của tứ dân: Sĩ, nông, công, thương vẫn tiếp tục in dấu ấn của nó lên đám cư dân hiện đại. Và khi cái hình hài đó còn ám ảnh thì tránh sao khỏi sự ngăn cách giữa hệ thống quản lý - quan liêu và hệ thống chuyên môn - nghề nghiệp; giữa người lãnh đạo và người được (hoặc chịu) sự lãnh đạo, rồi đẻ ra thảm cảnh dẫu là trí thức giỏi giang, có chuyên môn sâu đến mấy cũng phải có chút hồng (trong quan hệ hồng và chuyên), chút quyền (phải có hồng thì mới được tin cậy để giao quyền) mới mong mở mày mở mặt được. Cái gọi là trí thức như vậy thực ra vẫn là èo uột, tiên thiên bất túc... Còn nếu hiểu người trí thức theo cách hiểu của thời hiện đại, theo sự định danh của khoa xã hội học hiện đại thì đó là lớp người sản xuất ra các giá trị tinh thần, đẻ ra các ý tưởng, các phát kiến làm thay đổi nhận thức về tự nhiên và xã hội ở con người... Một lớp trí thức như thế mới thật sự có vai trò và có địa vị quan trọng trong sự phát triển của đời sống hiện đại, bất kể mọi thay đổi của hệ thống chính trị. Một lớp người như thế, nhận được sự tôn vinh như thế, chúng ta tuy cũng đã có nhưng chưa lúc nào trở thành một tầng lớp, để có được một tiếng nói chung và một lực hấp dẫn riêng.

Nhưng là ở giai đoạn khởi động, Ma Văn Kháng cũng đã cho ta nhận dạng ít nhiều khuôn hình ban đầu của nó - ở anh kỹ sư Trọng, ông giáo Cần, anh trưởng phòng Nam, ông giáo Bằng, anh nhà báo Luận, anh nhà giáo Tự, anh nhà văn Khiêm... Những nhân vật này đều như là hóa thân của tác giả, đều có hao hao hình bóng tác giả... Và ngay cả cái nhân vật Tôi - đóng vai người kể chuyện trong khắp lượt các truyện ngắn của anh, với đủ loại nghề nghiệp cao thấp, sang hèn... thì cũng chính là tác giả đấy thôi! Có điều, loại nhân vật này, tuy đã có một bối cảnh lịch sử khác, không còn là xã hội phong kiến, thuộc địa, nhưng vẫn có mối quan hệ huyết thống với nhân vật Nam Cao. Do vậy mà họ vẫn rất quen thuộc với chúng ta, là lớp độc giả rất trung thành với văn học trước 1945, và còn kéo dài cho đến sau 1975. Một thế giới khác trẻ hơn, là sản phẩm của chính thời đại mới, xuất hiện do yêu cầu của cách mạng khoa học - kỹ thuật và kỷ nguyên thông tin thì chỉ mới xuất hiện trong giao chuyển giữa hai thế kỷ XX và XXI. Đó sẽ là đối tượng khảo sát và thể hiện của một thế hệ viết mới, ở lứa tuổi trên dưới ba mươi, mà theo tôi, chỉ mới bắt đầu hình thành.

Chân dung Nam Cao – Điểm tựa truyền thống cho đề tài trí thức trước 1945. Ảnh: Internet
Chân dung Nam Cao – Điểm tựa truyền thống cho đề tài trí thức trước 1945. Ảnh: Internet

Người trí thức với bi kịch bản thân (biết đến bao giờ thì người trí thức mới hết bi kịch được?), bởi biết bao cản trở, trong đó có những cản trở do chính họ gây ra - tâm thế bất mãn hoặc không bằng lòng với bản thân; lối sống “độc thiện kỳ thân” - “đời đục ta trong”; sự không hòa hợp được với cộng đồng - “cái mặt không chơi được” - đó là khuôn hình quen thuộc, để gắn nối Ma Văn Kháng với thế hệ tiền bối như Thạch Lam, Nam Cao, Tô Hoài... Nhưng cái mới ở Ma Văn Kháng còn là ở sự mở rộng tầm quan sát để thấy người trí thức cả trong sự phân thân, phân hóa mà đẻ ra loại trí thức rởm, trí thức lưu manh - cũng như có sự tồn tại của đám vô sản lưu manh, đáng tiếc thay vẫn còn nhiều đất sống trong xã hội mới, một xã hội sau khi xóa bỏ giai cấp tưởng là có thể hết luôn, mà nào đâu hết được, nạn ăn bám, bóc lột và mọi thói tệ làm méo mó, nhầu nát đời sống con người. Một hình tượng trí thức rởm và lưu manh quả là chưa có nhiều và đậm trong văn học trước 1945, trừ một “ông Tây An Nam”, hoặc một gã Xuân tóc đỏ được viết theo bút pháp hoạt kê của Vũ Trọng Phụng. Và đây là điều rất đáng suy ngẫm. Bởi loại trí thức rởm và biến chất này không phải là sản phẩm của xã hội thuộc địa, mà là được sinh ra trong xã hội mới hẳn hoi, một xã hội do Đảng lãnh đạo và nhân dân làm chủ. Một xã hội từng trao sứ mệnh quản lý cho các tầng lớp Công - Nông - Binh, trong đó người trí thức cũng được ghé phần, khi đã cải tạo được bản thân theo phẩm chất của các thành phần cơ bản. Rồi đến lúc người trí thức cũng trở thành một lực lượng xã hội để có chân trong các tổ chức nghề nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thế mà tại sao gương mặt của họ lại vẫn có nhiều mảng tối như thế? Cái câu hỏi này, cái điều gây ngạc nhiên và sửng sốt này, đã sớm được Ma Văn Kháng nhận ra, và theo tôi, anh thuộc trong số người đầu tiên có công cất lên tiếng nói cảnh báo. Với bộ phận được gọi là trí thức này, như kỹ sư Hưng, kỹ sư Tiến, họa sĩ Hảo trong Mưa mùa hạ, như hiệu trưởng Cẩm, bí thư Dương trong Đám cưới không có giấy giá thú; Phô, Liệu, Khoái nơi một Nhà xuất bản trong Ngược dòng nước lũ... thì rốt cuộc xem ra chẳng có gì phân biệt họ với đám cư dân thành thị cùng chung sống với họ. Đó là thói bon chen, ti tiện; sự kèn cựa, ganh ghét; thói hợm hĩnh, hãnh tiến; thói đạo đức giả và cơ hội; sự cằn cỗi, thoái hóa về nhân tình, nhân tính.

Tất cả những biểu hiện như trên trong xã hội người thì lúc nào cũng có; nhưng rõ ràng nó có độ tập trung đậm nét và ấn tượng hơn vào một thời chuyển đổi, một cuộc trở dạ của lịch sử, đúng vào lúc Ma Văn Kháng từ giã thế giới vùng cao - thế giới những con người hoang sơ, đơn giản, chất phác, chịu quá nhiều sức đè nén và các thói tục hủ lậu, để trở về với đời sống đô thị muôn phần phức tạp, khó có thể nhận dạng rạch ròi hay dở, tốt xấu, thiện ác... Và có thể nói, Ma Văn Kháng đã trở về đúng lúc để giúp ta nhận ra sự “phức tạp” đó trong cả một cơn chuyển động của lịch sử để chuyển sang một hình thái mới của xã hội, như ta đã thấy.

Rõ ràng phải có những điểm nhấn, in rất sâu dấu ấn thời sự mới lưu lại được giá trị lịch sử cho lâu dài và vĩnh cửu. Ma Văn Kháng đã thực hiện được một kết hợp của cả hai phương diện: thời sự và lịch sử, cái trên bề mặt và cái thuộc chiều sâu, với độ bền của sức thuyết phục, là như thế./.

GS. Phong Lê