Cụ Huỳnh Thúc Kháng - đại trí thức yêu nước, trọn đời vì Tổ quốc, vì Nhân dân

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, di sản cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại không chỉ thuộc về lịch sử, mà còn để lại những bài học sâu sắc cho hôm nay và mai sau: Trí thức chân chính là trí thức gắn trí tuệ với vận mệnh dân tộc; trí thức chỉ thực sự lớn khi đứng về phía Nhân dân và khối đại đoàn kết chỉ bền vững khi được xây dựng trên sự tin cậy, tôn trọng, đồng thuận vì mục tiêu chung.

Trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026), sáng 30/9, tại Đà Nẵng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Thành ủy Đà Nẵng phối hợp tổ chức hội thảo khoa học "Cụ Huỳnh Thúc Kháng - Tấm gương cao đẹp của bậc đại trí thức yêu nước, trọn đời vì Tổ quốc, vì Nhân dân".

base64-1790744852262161361568-1790753553.png
Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu khai mạc Hội thảo. Ảnh chinhphu.vn/NA.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, cùng các đồng chí: Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Lê Ngọc Quang, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng; Nguyễn Văn Chiến, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, chủ trì Hội thảo.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và khẳng định những đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, sinh ngày 1/10/1876 trong một gia đình Nho học tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng). Lúc nhỏ tên là Huỳnh Văn Thước, sau là Huỳnh Hanh; năm 1900 Cụ đỗ Giải nguyên thi Hương, từ đây lấy tên là Huỳnh Thúc Kháng; năm 1904, đỗ đầu thi Hội và đỗ Tiến sĩ - vị trí cao trong hệ thống khoa cử đương thời.

Nhưng giữa lúc nước mất, dân nô lệ, bậc đại khoa ấy đã khước từ chốn quan trường để chọn con đường cứu nước. Đó là lựa chọn mang tính quyết định, định hình bản lĩnh, cốt cách của cả một đời người. Trong suốt hơn 70 năm cuộc đời, cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ suy nghĩ và hành động với quan điểm xuyên suốt, nhất quán: Tất cả vì "Dân". Học vì dân. Viết vì dân. Chịu tù đày vì dân. Gánh vác việc nước cũng vì dân.

Cùng các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, cụ Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng và trở thành một trong những linh hồn của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ với tôn chỉ "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh": Mở trường dạy chữ Quốc ngữ, lập hội buôn, hội nông, cổ vũ tân học, bài trừ hủ tục. Phong trào Duy Tân đã thổi bùng lên phong trào chống sưu thuế ở Quảng Nam và khắp Trung Kỳ đầu năm 1908. Hoảng sợ, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, bắt và đày Cụ ra Côn Đảo. Mười ba năm tù ngục (1908 - 1921) vẫn không khuất phục được ý chí của Cụ. Chính nơi "địa ngục trần gian" ấy, Cụ đã tự học tiếng Pháp để mở rộng tầm nhìn ra thế giới và tôi rèn bản lĩnh của người yêu nước.

Sau khi được trả tự do và trở về đất liền, tiếp tục con đường đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, năm 1926, với tài năng và uy tín trước Nhân dân, Cụ được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Cụ đã dùng nghị trường để tố cáo chính sách cai trị hà khắc, đòi quyền lợi cho Nhân dân; khi tiếng nói ấy bị áp chế, Cụ khẳng khái từ chức vào năm 1928.

Cùng với hoạt động nghị trường, cụ Huỳnh Thúc Kháng còn dành nhiều tâm huyết cho hoạt động báo chí. Năm 1927, Cụ sáng lập và trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân tại Huế - Tờ báo Tiếng Việt đầu tiên ở Trung Kỳ và cũng là tờ báo được xuất bản lâu nhất, gần 16 năm (1927 - 1943). Ngòi bút của cụ Huỳnh Thúc Kháng đã trở thành tiếng nói của lương tri, bênh vực người lao khổ, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc trong những năm tháng đất nước chịu ách thống trị của thực dân.

Tầm vóc của một bậc đại trí thức không chỉ ở học vấn uyên thâm, nhãn quan chính trị mẫn tiệp, mà ở khả năng nhận ra chân lý của thời đại và dấn thân theo chân lý ấy. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ở tuổi gần 70, Cụ nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Hà Nội gánh vác việc nước.

thk-thumb-1790752930.jpg
Triển lãm sách và tư liệu về cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh chinhphu.vn/NA.

Cuộc gặp gỡ giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng là cuộc gặp gỡ của hai nhân cách lớn trên một nền tảng chung: Độc lập của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân - biểu tượng sinh động của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và tư tưởng trọng dụng hiền tài của Đảng ta.

Ngày 2/3/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng được Quốc hội khóa I tín nhiệm bầu giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Từ cuối tháng 5 đến tháng 10/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước.

Thấm nhuần lời dặn "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ điều hành bộ máy Nhà nước non trẻ vững vàng giữa thù trong, giặc ngoài; kiên quyết, sáng suốt chỉ đạo đập tan các âm mưu bạo loạn, lật đổ của các thế lực phản động, giữ vững chính quyền cách mạng.

Trở về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận: "Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch, sự giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ".

Tháng 11/1946, trước ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Cụ nhận nhiệm vụ Đặc phái viên của Chính phủ vào miền Trung, động viên đồng bào đoàn kết kháng chiến. Ngày 21/4/1947, Cụ từ trần tại Quảng Ngãi.

Báo tin buồn với đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao... Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập". Đó là lời đánh giá đầy đủ nhất, cao quý nhất về cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Hiện nay, khi Đảng ta xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, đào tạo và văn hóa là những lĩnh vực chiến lược được chỉ rõ trong các Nghị quyết số 57-NQ/TW, 71-NQ/TW, 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, thì tinh thần "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" càng cho thấy giá trị gợi mở sâu sắc đối với yêu cầu phát triển con người và đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

13089454-1790753666.jpg
Lễ công bố phát hành bộ tem bưu chính "Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-2026)". Ảnh chinhphu.vn/NA.

150 năm đã trôi qua, nhưng tiếng nói vì dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn vang vọng. Tôn vinh Cụ hôm nay là để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi trí thức, mỗi người Việt Nam tự soi mình vào tấm gương "không cầu danh vị, không cầu lợi lộc"; tiếp tục thắp sáng khát vọng học tập, cống hiến, đóng góp trí tuệ, tâm huyết xây dựng quê hương, đất nước hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu, như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Phát biểu tại hội thảo, đồng chí Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh, ý nghĩa của hội thảo hôm nay không chỉ ở việc tôn vinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, mà quan trọng hơn là chuyển hóa những giá trị, bài học từ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, hành động của Cụ thành hành động cụ thể; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Trung ương, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Với hơn 200 đại biểu tham dự, các ý kiến cùng 40 tham luận tại hội thảo tập trung nghiên cứu, làm rõ và khẳng định những đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; làm sâu sắc hơn những giá trị trong tư tưởng, nhân cách, đạo đức, tinh thần yêu nước và phụng sự Nhân dân của Cụ.

Phát hành bộ tem bưu chính "Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng

Tại hội thảo, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và UBND TP. Đà Nẵng tổ chức Lễ công bố phát hành bộ tem bưu chính "Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-2026)".

Bộ tem được thiết kế với 01 mẫu tem, lấy chân dung cụ Huỳnh Thúc Kháng trong trang phục áo dài, khăn đóng truyền thống làm hình ảnh trung tâm. Qua đó khắc họa vẻ đẹp trang nghiêm, đĩnh đạc và khí chất của một bậc đại trí thức yêu nước, một nhân cách lớn của dân tộc. Chân dung được xử lý theo ngôn ngữ đồ họa, tạo sự cân đối giữa tính chân thực lịch sử và đặc trưng mỹ thuật của tem bưu chính.

Đây là hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm tôn vinh một danh nhân kiệt xuất của dân tộc, đồng thời lan tỏa những giá trị văn hóa, lịch sử và tri thức của Việt Nam đến đông đảo công chúng trong nước và bạn bè quốc tế.

Cuộc đời hoạt động của cụ Huỳnh Thúc Kháng

Theo tên chữ Hán trên trang bìa quyển Tập diễn văn của ông Hoàng Thúc Kháng, in năm 1926 thì đúng ra đọc (và viết) tên ông phải là Hoàng Thúc Kháng. Tuy nhiên, do kiêng húy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng, họ Hoàng phải đổi thành Huỳnh. Đến nay các tỉnh miền Trung và Nam vẫn dùng âm Huỳnh. Tuy vậy, vẫn có sách dùng Hoàng Thúc Kháng.

3561371906708217903-1768223686-1790753259.jpg
Cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Ông sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng). Cha của ông là Huỳnh Văn Phương, tự Tấn Hữu, xuất thân nhà nông hào nhưng cũng học qua Nho học, nhiều lần thi cử nhưng không đỗ. Mẹ của ông là Nguyễn Thị Tình, người làng Hội An nhưng cư ngụ làng Phú Thị (nay thuộc xã Sơn Cẩm Hà), em ruột Phó bảng Nguyễn Đình Tựu. Ông là người con thứ tư và là con trai út trong nhà, nhưng vì 2 anh trai mất sớm, chị gái cả Huỳnh Thị Duật (sinh năm 1873), lấy chồng tại Hương Lâm, Tứ Chánh (nay thuộc xã Lãnh Ngọc, thành phố Đà Nẵng) nên ông là người con trai duy nhất.

Bởi sự kỳ vọng của song thân, từ nhỏ ông đã được rèn dạy để tiến thân bằng khoa cử. Ông bắt đầu học chữ Nho từ năm 8 tuổi dưới sự dạy dỗ của người cậu ruột là Tế tửu Quốc tử giám Nguyễn Đình Tựu và đổi tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới Sanh. Năm Mậu Tý (1900), ông đậu Giải nguyên kỳ thi Hương, năm Giáp Thìn (1904), ông đỗ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân.

Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp là những nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân. Vì lý do đó, ông bị bắt trong năm 1908, rồi bị đày ở Côn Đảo suốt 13 năm, đến mãi năm 1921 mới được trả tự do.

Năm 1926, Huỳnh Thúc Kháng đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trong ba năm hoạt động ở Viện, với tư cách Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ ông đưa ra những thỉnh cầu nhằm sửa đổi một số điều luật nhằm giảm thuế rượu, thuế muối, phổ cập chữ quốc ngữ… thì bị chính quyền thực dân Pháp bác bỏ. Ông đã tranh luận gay gắt với Khâm sứ Trung Kỳ. Sau cuộc tranh luận đó, ông tuyên bố từ chức Viện trưởng.

Năm 1927, Huỳnh Thúc Kháng cùng Đào Duy Anh sáng lập tờ báo Tiếng Dân, được xuất bản tại Huế, và bị chính quyền thời bấy giờ đình bản năm 1943. Báo Tiếng Dân đòi mở mang giáo dục, canh nông, phản ánh thực trạng xã hội, đòi tự do báo chí, bảo vệ thuần phong mỹ tục… Báo còn là cơ quan ngôn luận công khai của phong trào yêu nước và là một diễn đàn chính trị. Trong suốt 16 năm tồn tại, báo Tiếng Dân trở thành tiếng nói bênh vực quyền lợi của Nhân dân, phơi bày những bất công xã hội, phản đối sưu cao thuế nặng, góp phần vào việc nâng cao sự giác ngộ chính trị của người dân. Trong khi làm báo Tiếng Dân, vào năm 1935, ông bị Đảng Cộng sản Đông Dương xem là quốc gia cải lương "trong lúc kinh tế khủng hoảng cũng giả ra bộ xăng xe "phản đối đế quốc" là người chủ của chúng để cướp ảnh hưởng trong quần chúng, để củng cố nền thống trị của đế quốc phong kiến, và để bán mình cho cao giá.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Huỳnh Thúc Kháng quyết định nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Chính phủ Liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Theo sử gia Trần Trọng Kim thì trong thời gian này, khi được hỏi về công việc, Huỳnh Thúc Kháng đã nói: "Bây giờ việc gì cũng do địa phương tự trị cả, thành ra không có việc gì mấy, và khi có việc gì, thì họ làm sẵn xong cả rồi, tôi chỉ có vài chữ ký mà thôi".

Năm 1946, khi Hồ Chí Minh sang Pháp để tham dự Hội nghị Fontainebleau, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Cuối năm 1946, ông là Đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 21/4/1947, Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng và mất tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, khi vẫn còn đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tang lễ của ông được tổ chức theo nghi thức Quốc tang do Hồ Chí Minh làm trưởng ban lễ tang. Làm theo tâm nguyện của ông, Nhân dân đã an táng ông trên đỉnh núi Thiên Ấn, nơi được mệnh danh là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi. Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng tại xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ vật có giá trị, được một người cháu nuôi trong dòng tộc bảo quản.

Ngày 19/2/2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký quyết định truy tặng Huân chương Sao Vàng để ghi nhận những đóng góp của ông đối với đất nước.

PV/chinhphu.vn