Ngày 31/5/1946, ông Phạm Văn Đồng là Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau tại Pháp.
Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông được cử làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ.

Tháng 9/1954, ông Phạm Văn Đồng kiêm chức Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng.
Nỗ lực bảo vệ lợi ích tối đa của Nhà nước
Trong giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1954, dấu ấn ngoại giao của đồng chí Phạm Văn Đồng được thể hiện mạnh mẽ và rõ nét khi đồng chí bắt đầu nhận nhiệm vụ làm Trưởng đoàn đàm phán của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang tham dự Hội nghị Fontainebleau tại Pháp vào ngày 31/5/1946, nhằm tiếp tục đàm phán về các điều khoản đề ra theo Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt được ký kết vào chiều ngày 6/3/1946 giữa Pháp và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tại Hội nghị Fontainebleau, Trưởng phái đoàn Pháp Max André đã đọc diễn văn khai mạc. Với cương vị là Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nỗ lực bảo vệ lợi ích tối đa của Nhà nước cộng hòa non trẻ.

Trong lời đáp, đồng chí Phạm Văn Đồng nêu rõ: “Chính từ sự phiền lòng sâu sắc mà chúng tôi phải nói với các ngài rằng, một số điều khoản đình chiến của Hiệp định đã không được thực hiện là do các nhà chức trách Pháp ở Việt Nam không thi hành”. Lời phát biểu của Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng về sự thật tình hình Việt Nam lúc ấy đã gây chấn động lớn ở Thủ đô Paris và trên toàn nước Pháp.
Hội nghị Genève lúc đầu không bàn ngay về vấn đề Đông Dương. Chỉ từ sau thất bại của thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ, từ ngày 8/5/1954, hội nghị mới đàm phán về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương. Với cương vị là Phó Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị Genève về lập lại hòa bình ở Đông Dương và Việt Nam, đã tạo ra những đột phá đưa hội nghị tới thành công, ký kết các hiệp định đình chiến ở Đông Dương.
Trên cương vị Thủ tướng chính phủ kiêm Bộ trưởng ngoại giao, Phạm Văn Đồng đã dành nhiều thời gian, công sức cho việc xây dựng chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời bình; bồi dưỡng cán bộ, cơ cấu lại bộ máy của Bộ Ngoại giao và mạng lưới hoạt động đối ngoại cho phù hợp với nhiệm vụ khôi phục, phát triển đất nước và đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhiều thế hệ cán bộ ngoại giao Việt Nam đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng dìu dắt trưởng thành và trở thành những cán bộ chủ chốt của Bộ Ngoại giao. Những hoạt động ngoại giao của Phạm Văn Đồng để lại dấu ấn văn hóa sâu đậm trong nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, làm giàu thêm bản sắc ngoại giao Việt Nam.
Đoàn đại biểu Việt Nam gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, không có thông tin… Đoàn đàm phán Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng đứng đầu đã khắc phục khó khăn, có những đóng góp quan trọng, kiên trì tìm biện pháp bảo đảm lợi ích của đất nước, của cách mạng Đông Dương, của hai chính phủ kháng chiến Pathet Lào và Khmer Issarak.
Hình ảnh về nhà ngoại giao Phạm Văn Đồng với đôi mắt sáng, vầng trán cao và nhất là những phát biểu đanh thép, những cuộc trả lời phỏng vấn sắc sảo tại Hội nghị Genève đến nay vẫn luôn được bạn bè quốc tế nhắc đến, là niềm tự hào, là tấm gương không chỉ đối với ngành ngoại giao Việt Nam mà còn của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Bởi vậy, thành công của Hội nghị Genève năm 1954 đã được Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất là Nhân dân các nước Đông Nam Á, nhiệt liệt hoan nghênh và coi đó như thắng lợi của chính mình.
Ngoại giao con thoi đầy hiệu quả của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cương vị Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và có giai đoạn trực tiếp lãnh đạo ngành ngoại giao, từ tháng 4/1954 đến tháng 2/1961, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc lãnh đạo Chính phủ thực hiện hai chiến lược cách mạng hai miền: Xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam.

Để thực hiện nhiệm vụ xây dựng CNXH ở miền Bắc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những chuyến thăm hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và các nước bạn trên thế giới, tiến hành đàm phán, đề nghị viện trợ, nhất là từ Liên Xô (cũ), Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Chính nhờ có nguồn viện trợ quý giá và kịp thời của các nước anh em, Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục kinh tế và bước đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc. Mặt khác, chúng ta đã xác lập được mối quan hệ hữu nghị mật thiết với các nước trong hệ thống XHCN, các nước láng giềng, khu vực và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trên cương vị Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã dành nhiều thời gian, công sức cho công tác xây dựng ngành, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cơ cấu lại bộ máy của Bộ Ngoại giao và mạng lưới hoạt động đối ngoại cho phù hợp với nhiệm vụ đấu tranh thống nhất nước nhà và khôi phục, phát triển đất nước.
Nhiều thế hệ cán bộ ngoại giao Việt Nam đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng dìu dắt trưởng thành và trở thành những cán bộ chủ chốt của ngành ngoại giao.

Để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giải phóng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Phạm Văn Đồng đã xác định vai trò đặc biệt quan trọng của mặt trận ngoại giao. Bởi vậy, trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng vừa trực tiếp đảm trách nhiệm vụ đại diện của Chính phủ Việt Nam trong các hội nghị quốc tế quan trọng, đồng thời có những đóng góp lớn trong việc hoạch định chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta.
Khẳng định quan điểm ngoại giao độc lập, tự chủ
Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng cùng với các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã từng bước hoạch định và hoàn thiện đường lối chiến lược, sách lược ngoại giao của Đảng phù hợp với thế và lực của Việt Nam, động viên, thu hút được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đứng về phía Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Tháng 5/1954, ông Phạm Văn Đồng là trưởng phái đoàn Chính phủ dự Hội nghị Genève về Đông Dương. Những đóng góp của đoàn Việt Nam do ông đứng đầu tạo ra những đột phá đưa hội nghị để giành độc lập cho bán đảo Đông Dương. Trải qua 8 cuộc họp toàn thể và 23 phiên họp căng thẳng, phức tạp, với tinh thần chủ động và cố gắng của phái đoàn Việt Nam, đến ngày 20/7/1954, bản Hiệp định đình chỉ chiến sự trên bán đảo Đông Dương đã được ký kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước Việt Nam, Lào và Campuchia.
Các ý kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng thể hiện quan điểm đúng đắn, phù hợp với nguyên tắc trong quan hệ quốc tế và phù hợp với chủ trương của Việt Nam trong quan hệ với Liên Xô (cũ), Trung Quốc; khẳng định quan điểm ngoại giao độc lập, tự chủ, đồng thời đưa ra những giải pháp đấu tranh ngoại giao ở từng thời điểm với Mỹ. Trên cơ sở đó, hoạt động ngoại giao trở thành một mặt trận hiệu quả, góp phần đánh bại bộ máy tuyên truyền khổng lồ của đế quốc Mỹ.
Tháng 4/1955, đồng chí Phạm Văn Đồng được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị cấp cao các nước Á - Phi ở thành phố Bandung, Indonesia. Với tài năng và những hoạt động tích cực tại hội nghị, đồng chí Phạm Văn Đồng đã thu hút sự chú ý của các nước thuộc thế giới thứ ba, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của Nhân dân Việt Nam.

Đây là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, đặt nền tảng cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa nước ta với các nước trong Phong trào Không liên kết trên những nguyên tắc quan hệ quốc tế mới, nhất là các nước Á - Phi và Mỹ Latin.
Bước sang năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt của Mỹ” bị phá sản. Ngày 8/4/1965, một ngày sau khi Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson tuyên bố sẵn sàng “thương lượng không điều kiện”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam trước thế giới. Đây chính là văn bản pháp lý vô cùng quan trọng, không những đặt cơ sở cho một giải pháp chính trị thỏa đáng về Việt Nam, mà còn trở thành vũ khí sắc bén của Việt Nam trong việc tấn công, làm tiêu tan mưu đồ của Mỹ về cái gọi là “thương lượng có điều kiện”.
Nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng, các chiến dịch vận động quốc tế chống chiến tranh xâm lược của Mỹ được tổ chức rầm rộ, từ phong trào đoàn kết với Việt Nam, các hội nghị quốc tế chống Mỹ, cho đến các tuyên bố chung phản đối chiến tranh và kêu gọi hòa bình. Hội nghị quốc tế chống Mỹ tại Hà Nội năm 1964 với sự tham dự của 64 đoàn từ 52 quốc gia và 12 tổ chức quốc tế là minh chứng điển hình cho hiệu quả của mặt trận ngoại giao Nhân dân nhiều tầng, nhiều lớp mà đồng chí Phạm Văn Đồng đóng vai trò khởi xướng.
Lập trường bốn điểm đã tạo ra thế có lợi và chủ động cho mặt trận ngoại giao tấn công và đánh bại các chiến dịch tuyên truyền giả danh “hòa bình” của Mỹ; từng bước buộc Mỹ phải chấp nhận xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Hội nghị Paris vào năm 1973, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn.
Là người có tầm nhìn sâu rộng, đồng chí Phạm Văn Đồng có những nhận định sắc sảo về tình hình quốc tế, phát hiện rất sớm ý đồ của Mỹ hòng quốc tế hóa cuộc chiến tranh Việt Nam, âm mưu chia rẽ Việt Nam với Liên Xô (cũ), Trung Quốc, lợi dụng sự mâu thuẫn trong phong trào cộng sản, mâu thuẫn trong phe xã hội chủ nghĩa để chia rẽ, phá hoại phong trào cách mạng, cô lập Việt Nam.

Trên cơ sở đó, đồng chí Phạm Văn Đồng đề ra các giải pháp, chỉ đạo hoạt động ngoại giao làm thất bại âm mưu của Mỹ. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã kêu gọi Nhân dân các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới bày tỏ quan điểm của mình ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của Nhân dân Việt Nam. Hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, dư luận thế giới, chính phủ và Nhân dân tiến bộ ở các nước đã biểu thị lập trường của mình đứng về phía Việt Nam.
Trong việc tập hợp lực lượng tiến bộ trên thế giới ủng hộ Nhân dân Việt Nam chống Mỹ, mặt trận ngoại giao đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó có công sức, trí tuệ của đồng chí Phạm Văn Đồng - người đã góp phần tạo nên thế trận ngoại giao Nhân dân nhiều tầng, nhiều lớp, trên cơ sở đó tạo ra những phong trào đấu tranh chống Mỹ trên khắp thế giới và ngay trong lòng nước Mỹ; làm thất bại từng bước ý đồ chiến lược của chúng, gây cho chúng tâm lý hoang mang, lúng túng, cuối cùng phải từ bỏ dã tâm xâm lược.

Ngoại giao hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đi thăm và cảm ơn Nhân dân các nước anh em và bạn bè trên thế giới, bao gồm: Liên Xô (năm 1978); Cuba (năm 1979) và các nước XHCN; các nước láng giềng, bao gồm: Lào (năm 1977), Campuchia (năm 1979); các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), như: Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines (năm 1978); đồng thời, thăm các nước tư bản chủ nghĩa, như: Pháp, Phần Lan và Đan Mạch (năm 1977) để mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại.

Các chuyến thăm cùng với phong cách ứng xử ngoại giao chân tình, gần gũi của đồng chí Phạm Văn Đồng đã gây được ấn tượng mạnh đối với bạn bè khắp nơi, giúp củng cố tình đoàn kết, hữu nghị của Chính phủ và Nhân dân Việt Nam với chính phủ và Nhân dân các nước, thể hiện tinh thần đoàn kết, hữu nghị, trước sau như một của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam.
Tóm lại, từ Hội nghị Fontainebleau (năm 1946) đến Hội nghị Genève (năm 1954) và sau này là các cuộc tiếp xúc, đàm phán bí mật trước Hội nghị Paris (trong các năm 1965 - 1967) với các nhà đàm phán trung gian của Chính phủ Mỹ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã tỏ rõ là một nhà ngoại giao xuất sắc, có bản lĩnh, vừa giữ vững nguyên tắc không khoan nhượng về mục tiêu đã đề ra, vừa linh hoạt, uyển chuyển trong hình thức, mềm dẻo trong phương pháp, kiên trì, khôn khéo đấu tranh từng bước, buộc đối phương phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào đàm phán và cơ bản phải thực thi những yêu cầu do ta đưa ra.
Trong thời gian từ năm 1975 đến Đại hội V của Đảng (năm 1982), đồng chí Phạm Văn Đồng đã cùng Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại đúng đắn nhằm “ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, khoa học, kỹ thuật, củng cố quốc phòng…; đồng thời tiếp tục kề vai sát cánh với các nước XHCN và tất cả các dân tộc trên thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH”. Theo đó, Việt Nam đã gia nhập Liên Hợp quốc vào ngày 20/9/1977 và gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) vào ngày 27/6/1978.
Để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có đồng chí Phạm Văn Đồng khẳng định nhiệm vụ của đối ngoại: “Công tác đối ngoại phải ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế to lớn và nhiều mặt cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước… Đặc biệt công tác đối ngoại phải trở thành một mặt trận chủ động, tích cực”.

Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, những hoạt động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trở thành một phần quan trọng làm nên tên tuổi của ông và ngược lại, tên tuổi của ông cũng đã góp phần làm nên truyền thống vẻ vang, rất đỗi tự hào của ngành ngoại giao Việt Nam.
Ông Phạm Văn Đồng là nhà ngoại giao được đào luyện từ phong trào cách mạng, có vốn tri thức uyên bác, am hiểu sâu sắc văn hóa Đông - Tây và thông thạo tiếng Pháp. Ẩn sau vẻ điềm đạm, nhẹ nhàng là khí chất kiên định, cương trực của người miền Trung; đồng thời, là sự mềm dẻo, linh hoạt cần thiết của một nhà đàm phán chiến lược, đồng chí luôn giữ vững lập trường ngoại giao kiên quyết về nguyên tắc, nhưng vận dụng sách lược một cách khôn khéo, linh hoạt, từng bước buộc đối phương phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận đàm phán theo những điều kiện có lợi cho Việt Nam.

Trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng không chỉ đại diện trực tiếp cho Nhà nước Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, mà còn tham gia hoạch định chính sách đối ngoại lâu dài của Đảng và Nhà nước. Đồng chí là người đã vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh: “Nước Việt Nam sẵn sàng đặt quan hệ thân thiện với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và cùng có lợi”.
Trong nhiều phát biểu tại các diễn đàn quốc tế, Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhấn mạnh tinh thần: “Phải đứng về phía chính nghĩa! Phải chọn đứng về bên nào!”, không chỉ là lời kêu gọi thế giới ủng hộ Việt Nam, mà còn là tuyên ngôn ngoại giao sắc bén, lay động lương tri nhân loại. Chính thông điệp ấy đã buộc không ít chính phủ và tổ chức quốc tế phải thể hiện lập trường rõ ràng, đứng về phía nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, hòa bình, thống nhất.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường tự hào chia sẻ, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập và là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên, cố Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng luôn đề cao vai trò của ngoại giao như một phương thức quan trọng để kiến tạo hòa bình và phát triển, tạo nền tảng vững chắc về lý luận và thực tiễn để đối ngoại và hội nhập quốc tế được chính thức được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” tại Đại hội Đảng XIV vừa thông qua.
Ngày 24/2/2026, tại Hà Nội, đã diễn ra Hội thảo khoa học “Phạm Văn Đồng và Đối ngoại - Ngoại giao Việt Nam” do Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao chủ trì tổ chức. Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Ngoại giao đã tham dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo.
Hội thảo tập trung thảo luận và làm rõ những điểm nổi bật về tư duy, tầm nhìn, phương pháp luận của đồng chí Phạm Văn Đồng trong công tác đối ngoại; tôn vinh phẩm chất, tư tưởng và các di sản trong lĩnh vực đối ngoại của đồng chí Phạm Văn Đồng.
Hội thảo đã làm rõ tài năng, nhân cách và những đóng góp xuất sắc của đồng chí Phạm Văn Đồng - nhà ngoại giao xuất sắc, tiêu biểu của thời đại Hồ Chí Minh - đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với 41 năm là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt 7 năm làm Phó Thủ tướng, rồi Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao (1954-1961) và Trưởng ban Đối ngoại Trung ương (1954-1955; 1960-1961), đồng chí Phạm Văn Đồng luôn là một tấm gương về bản lĩnh, phẩm chất, ý chí cách mạnh kiên cường, đạo đức trong sáng, liêm chính và tầm nhìn chiến lược, luôn đặt lợi ích của đất nước, của Nhân dân lên trên hết.
https://nguonluc.com.vn/cac-vithu-tuong-chinh-phu-tu-ngay-lap-nuoc-den-nay-a23934.html
https://nguonluc.com.vn/chu-tich-chinh-phu-lam-thoi-ho-chi-minh-vi-thu-tuong-dau-tien-a23961.html
https://nguonluc.com.vn/ong-pham-van-dong-nguoi-co-32-nam-lam-thu-tuong-chinh-phu-viet-nam-a23980.html
https://nguonluc.com.vn/thu-tuong-pham-van-dong-nguoi-dat-nen-mong-cho-phat-trien-nen-kinh-te-tu-luc-tu-cuong-a24039.html
https://nguonluc.com.vn/thu-tuong-pham-van-dong-dat-nen-tang-cho-chuyen-nganh-ho-chi-minh-hoc-nha-van-hoa-lon-a24074.html
(Còn nữa)