Thủ tướng Phạm Văn Đồng – Người đặt nền móng cho phát triển nền kinh tế tự lực tự cường

Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh, trước anh linh đồng chí Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu: Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước "tay trắng dựng nên cơ đồ" điều hành, chèo lái đất nước vượt qua những giai đoạn đặc biệt khó khăn.

Tư duy chiến lược nền kinh tế tự lực tự cường

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vị Thủ tướng tại nhiệm lâu nhất (1955-1987), đã đóng vai trò nền móng trong phát triển kinh tế Việt Nam với tư duy chiến lược tự lực tự cường, chú trọng xây dựng các ngành công nghiệp mũi nhọn. Ông gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu hòa bình, độc lập và cải thiện đời sống Nhân dân. 

ong-pvd-thumb-1774823828.jpg
Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ảnh Tư liệu.

Những điểm nổi bật về tư duy và chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong phát triển kinh tế như sau:
Tư duy Tự lực tự cường: Đồng chí Phạm Văn Đồng luôn nhấn mạnh việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, không dựa dẫm, nhằm tạo thế đứng vững chắc cho đất nước.
Xây dựng công nghiệp mũi nhọn: Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp cơ bản (như điện, than, cơ khí) làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế quốc dân.
Nền móng cho Đổi mới: Trong giai đoạn khó khăn (trước 1986), Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chỉ đạo tìm tòi các mô hình quản lý mới, đặt nền móng tư duy cho công cuộc Đổi mới sau này, đặc biệt là việc khuyến khích sản xuất và cải thiện đời sống người dân.
Tầm nhìn chiến lược: Gắn liền phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng và văn hóa-xã hội, tạo sự phát triển bền vững. 

Tầm nhìn phát triển kinh tế vượt thời đại

Trong vai trò người đứng đầu Chính phủ suốt hơn 3 thập kỷ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thể hiện tư duy của một nhà quản lý kinh tế sắc sảo, luôn lấy hiệu quả thực tế và đời sống Nhân dân làm thước đo cao nhất cho mọi quyết sách. Ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công, đất nước độc lập năm 1945, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính đầu tiên, Đồng chí đã phải đối mặt với những khó khăn, thử thách đầu tiên với nạn đói hoành hành cướp đi sinh mạng của hàng triệu đồng bào.

Lúc bấy giờ, với tư duy vì nước, vì dân, đồng chí Phạm Văn Đồng đã thay mặt Chính phủ ký Nghị định giảm thuế và hoãn thuế cho nông dân. Từ quyết sách nhân văn đó, người dân đã dần phục hồi sản xuất, vượt qua nạn đói và dần ổn định đời sống. 

phamvandong-thumb-1774822849.jpg
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm cánh đồng lúa năng suất cao của nông dân xã Hải An, huyện Hải Châu, tỉnh Nam Hà (cũ), tháng 6/1969. Ảnh Tư liệu.

Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất nhưng phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trăn trở không yên trước những rào cản của cơ chế cũ. Đồng chí chính là người chỉ đạo mở ra cơ chế mới cho sản xuất kinh doanh, kiên quyết từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Các nhà sử học và kinh tế học sau này đều nhìn nhận đây chính là "bước khởi đầu quan trọng" kiến tạo nên tư duy Đổi mới và giải phóng sức sản xuất cho dân tộc.

Đồng chí Phạm Văn Đồng không chấp nhận lối làm việc hình thức. Trong mọi ngành kinh tế, đồng chí luôn đòi hỏi cán bộ phải làm việc với "năng suất, chất lượng và hiệu quả". Đồng chí coi việc thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí không chỉ là bài toán kinh tế mà còn là đạo đức của người lãnh đạo. Trên cương vị Phó Thủ tướng rồi Thủ tướng Chính phủ trong hai cuộc kháng chiến, đồng chí luôn hướng tới việc tổ chức bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, ít tốn kém, hoạt động hiệu quả; tích cực lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế; đảm bảo cuộc sống của Nhân dân; huy động sức người, sức của cho kháng chiến và kiến quốc. Đó cũng chính là bước khởi đầu quan trọng của tư duy đổi mới đất nước.

Trong tư duy của vị cố Thủ tướng, phát triển kinh tế phải đi đôi với xây dựng các ngành công nghiệp mũi nhọn để tạo thế đứng tự lực tự cường. Trong số những “mũi nhọn” để phát triển kinh tế đất nước, ngành Dầu khí được xác định là ngành kinh tế trọng điểm. 

Ở những năm đất nước vừa thống nhất, khi còn bộn bề gian khó, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 170/CP vào ngày 3/9/1975 để thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Ngày 9/9/1977, Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định thành lập Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam (tiền thân của Petrovietnam), đây là bước đi nhằm tách bạch chức năng quản lý nhà nước (của Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam) và hoạt động sản xuất kinh doanh (của Petrovietnam). Những quyết sách này không chỉ chấm dứt thời kỳ hoạt động phân tán của các tổ chức riêng rẽ mà còn chính thức mở ra một trang sử mới, đưa dầu khí trở thành ngành kinh tế kỹ thuật trọng điểm, ưu tiên chiến lược của quốc gia.

Dấu ấn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng còn đậm nét hơn trong tiến trình đưa ngành Dầu khí phát triển thông qua sự ra đời của Liên doanh Vietsovpetro. Tháng 7/1980, tại điện Kremlin, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trực tiếp chứng kiến lễ ký kết Hiệp định hợp tác lịch sử với Liên Xô, tạo tiền đề pháp lý vững chắc cho việc thăm dò tại thềm lục địa phía Nam. 

Đầu năm 1981, giữa lúc cuộc đàm phán thành lập liên doanh tại Vũng Tàu đang ở giai đoạn cam go, Thủ tướng đã đến thăm đoàn đàm phán đúng vào ngày sinh nhật của mình. Sự xuất hiện và chỉ đạo trực tiếp của ông tại tầng 8 khách sạn Hòa Bình khi đó đã trở thành "cú hích" quyết định, giúp tháo gỡ nhiều nút thắt then chốt để Hiệp định thành lập Vietsovpetro chính thức được ký kết vào ngày 19/6/1981. Đây là mốc son chói lọi, không chỉ khai sinh ra một xí nghiệp liên doanh lớn nhất thời bấy giờ mà còn khai sinh ra một ngành công nghiệp mới cho đất nước là thăm dò và khai thác dầu khí.

Trong bài phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính có nội dung: Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những nhà lãnh đạo trực tiếp đặt nền móng cho sự nghiệp Đổi mới của toàn dân tộc trong thế kỷ XX. Sau ngày đất nước thống nhất, trước những hạn chế của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, Đồng chí đã sớm trăn trở tìm hướng tháo gỡ, tìm đường khuyến khích cách làm mới trong quản lý và sản xuất, góp phần hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Đồng chí cũng là người để lại dấu ấn tại những công trình thế kỷ, mang tính biểu tượng cho trí tuệ, bản lĩnh của con người Việt Nam trong kỷ nguyên xây dựng đất nước như: Thủy điện Hòa Bình, Nhà máy gang thép Thái Nguyên…

pham-van-dong-01032026-05-1774824024.jpg
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm công trường xây dựng Nhà máy xi-măng Hoàng Thạch, tháng 1/1980. Ảnh Xuân Lâm/TTXVN.

Xây dựng và tìm đường đổi mới kinh tế: Phá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn nhắc nhở cán bộ: Phải tiến hành đồng thời việc đổi mới công tác quản lý kinh tế với công tác quần chúng... Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển mình đầy khó khăn của đất nước sau năm 1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thể hiện một tầm nhìn đổi mới sắc sảo. Tại các phiên họp của Hội đồng Bộ trưởng, ông luôn nhấn mạnh vào việc phá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp để giải phóng sức sản xuất. Ông là người cổ vũ mạnh mẽ cho những "khoán mới" trong nông nghiệp, những thử nghiệm đổi mới trong công nghiệp. Bản lĩnh của ông nằm ở chỗ dám nhìn thẳng vào những sai lầm, khuyết điểm của bộ máy và kiên quyết tìm đường ra cho nền kinh tế dân tộc.

Cụ thể, Thủ tướng Phạm Văn Đồng chí đã chỉ đạo cán bộ đi khảo sát “khoán chui” trong nông nghiệp ở Hải Phòng. Đồng chí trực tiếp làm việc với cán bộ lãnh đạo Hải Phòng và kết luận cái được, cái chưa được trong cơ chế khoán này. Đó là tiền đề cho Chỉ thị của Đảng về khoán hộ trong nông nghiệp ở thời kỳ đổi mới, một giải pháp hiệu quả cho nền nông nghiệp nước nhà. 

Đồng chí đã đồng ý cho TP. Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp mới trong cơ chế sản xuất công nghiệp và từng bước tổng kết. Từ đó đã ra đời các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ, mở ra cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Đó là những bước đầu của tư tưởng đổi mới.

Những năm 1976-1985, ở cương vị lãnh đạo, xây dựng nền kinh tế trên phạm vi cả nước, đồng chí đã lo tập trung giải quyết những vấn đề trọng yếu, cấp thiết của đất nước ở tầm vĩ mô nhằm thực hiện tốt các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét về ông "tác phong giản dị mà lịch thiệp", "lối sống đạm bạc mà văn hóa" "rất mực ôn hòa" "hết mức bình dị" và "Năm trước, ở bài viết trong cuốn sách kỷ niệm về anh Sáu Thọ, tôi có nhắc tới biệt danh "Sáu Búa" thể hiện tính quyết đoán cao và sự thẳng thắn trong đấu tranh nội bộ của anh Sáu. Với Anh Tô, tôi thấy dường như Anh là sự bù trừ cho anh Sáu và một số anh khác".

Về nông nghiệp, trăn trở của Thủ tướng khi đó là làm thế nào để có thể tổ chức sản xuất để đạt năng suất cao. Muốn vậy phải cải tiến quản lý hợp tác xã, đưa hợp tác xã lên cấp cao hơn; cải tiến nông nghiệp, nghiên cứu khoa học để tìm giống cây trồng tốt, có chất lượng... 

Ủng hộ thực hiện cơ chế giá, khoán hộ

Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn lắng nghe ý kiến từ địa phương, ủng hộ những cách làm mới. Theo ông Nguyễn Tiến Năng, có hai việc Thủ tướng quyết định chính là tiền đề cho công cuộc đổi mới sau này.

Việc thứ nhất, năm 1980, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có một cuộc làm việc với Hải Phòng, địa phương đang thực hiện “khoán chui”. Thủ tướng củng đã nghe đến câu chuyện người dân thực hiện “khoán chui” ở nhiều nơi ở miền Bắc.

“Vì sao người ta lại phải làm thế? Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp lúc đó khiến người dân đều phải theo ban chủ nhiệm Hợp tác xã, vì thế không khuyến khích được sản xuất, năng suất nông nghiệp không cao, đời sống người dân thấp. Cơ chế “khoán chui” đã động viên được họ. Khi Thủ tướng đến và nghe cơ sở báo cáo thì thấy rõ ràng người dân hào hứng với cách làm mới này nên năng suất lao động tăng lên, sản lượng nhiều hơn, đóng góp cho nhà nước cũng cao lên”.

Việc thứ hai, vào khoảng năm 1983, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Trường Chinh có buổi làm việc tại Đà Lạt với đoàn cán bộ của TP. Hồ Chí Minh do đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư thành ủy dẫn đầu. Khi ấy, sản xuất công nghiệp, thương mại ở TP. Hồ Chí Minh đang rất khó khăn, đời sống công nhân thiếu thốn.

tle8520260227213513-1774824240.jpg
Các thế hệ làm việc trong ngành Dầu khí thăm và tưởng nhớ vị cố Thủ tướng tại Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ảnh petrovietnam.petrotimes.vn.

Ngày làm việc đầu tiên, Chủ tịch Trường Chinh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng nghe giám đốc các xí nghiệp và các đồng chí lãnh đạo thành phố trình bày nguyện vọng của mình. Để có thể cải tiến sản xuất, các ý kiến đề nghị cho phép được dùng các loại giá như: giá nhà nước, giá thỏa thuận và giá thị trường.

Cụ thể: Nhà nước cung cấp bao nhiêu vật tư thì sẽ là bao nhiêu sản phẩm và giá sản phẩm đó là do nhà nước quy định. Loại giá thứ hai là: Xí nghiệp được mua những vật tư theo giá thị trường thì sản xuất ra sản phẩm có giá thị trường. Ngoài ra thì có thể có giá thỏa thuận khác giữa người sản xuất và người tiêu dùng.

“Cơ chế này khác hẳn với cơ chế hiện tại lúc đó do Nhà nước quy định hết mọi thứ mà người ta ví là “mua như ăn cướp, bán như cho”, giá sản phẩm không thực với giá trị của sản phẩm, với công lao động người ta bỏ ra. Nghe các đồng chí lãnh đạo TP Hồ Chí Minh trình bày, Chủ tịch Trường Chinh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất thông cảm và cũng rất trăn trở về cơ chế mới nhưng chưa đưa ra được quyết định nào trong ngày hôm đó là đồng ý hay không. 

Cuộc họp tiếp tục được tổ chức thêm ngày hôm sau. TP. Hồ Chí Minh vẫn thể hiện quyết tâm xin phép được làm và sẽ làm với một trách nhiệm cao trước Đảng, trước Nhà nước, trước nhân dân thành phố. Đồng chí Nguyễn Văn Linh nói, chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm trước Trung ương với những điều mà chúng tôi đề nghị ở đây. Chúng tôi tin tưởng có thể làm được.

Ông Nguyễn Tiến Năng, nguyên thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói về người lãnh đạo của mình: Thủ tướng trăn trở nhiều vấn đề, nhưng trước hết là vấn đề kinh tế và chăm lo cuộc sống cho người dân. Nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất chú trọng đến xây dựng, phát triển kinh tế, làm thế nào đưa nền kinh tế của đất nước đi lên. “Để phát triển kinh tế thì sẽ phải làm rất nhiều việc, nhưng ở đây Thủ tướng nghĩ trước hết là phải làm thế nào để trẻ em có một quả trứng một ngày, một lon sữa một ngày, một quả chuối mỗi ngày. Đơn giản như vậy thôi. 

Trước sự kiên quyết của lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh cũng như giám đốc các xí nghiệp, sau khi suy nghĩ rất kỹ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đề nghị Chủ tịch Trường Chinh cho phép TP. Hồ Chí Minh được làm thử theo cơ chế mới và đã được đồng chí Trường Chinh đồng ý. 

Quyết định này đã khiến sản xuất công nghiệp của thành phố sau đó khác hẳn, giải đáp, thỏa mãn được yêu cầu tiêu dùng của dân. Cũng từ thành công đó đã ra đời các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ, mở ra cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp.

Ví dụ như Long An thay đổi cách trả lương, tính lương vào sản phẩm. Lương đáng bao nhiêu thì trả cho người ta bấy nhiêu. Đấy là đưa giá vào lương. Hay như ở Vĩnh Phúc (Vĩnh Phú) việc khoán rừng cho dân mà trước không được làm cũng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ủng hộ. Cách làm này khiến rừng được bảo vệ, phát triển, mà người dân cũng có thu nhập từ chăm sóc rừng. Thủ tướng cũng ủng hộ cách làm táo bạo của bà Ba Thi, Giám đốc Công ty kinh doanh lương thực TP. Hồ Chí Minh trong việc kinh doanh gạo-một mặt hàng mang tính chiến lược mà Nhà nước độc quyền quản lý.

Trong cái khó trăm bề của cơ chế quan liêu bao cấp luôn ràng buộc các doanh nghiệp, bà Ba Thi đã mua lúa, xay xát rồi cung cấp cho thành phố, thậm chí còn cung cấp cho cả miền Bắc. Ngoài ra, bà Ba Thi còn sản xuất cả bật lửa, kinh doanh về dầu lửa.

thu-tuong-pham-van-dong-hay-vat-kiet-minh-cho-dat-nuoc-1774824358.webp
Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một lần đến thăm nông dân tỉnh Tiền Giang. Ảnh Tư liệu.

Hơn ba thập kỷ đứng đầu Chính phủ, đồng chí không chỉ là vị "kiến trúc sư" đặt nền móng cho tư duy đổi mới, xóa bỏ rào cản bao cấp mà còn để lại bài học vô giá về đạo đức công vụ: Làm việc phải có hiệu quả, năng suất và tuyệt đối chống thói quan liêu, lãng phí. Ngày nay, những ngọn đuốc dầu khí rực sáng giữa Biển Đông hay một nền kinh tế Việt Nam đang vươn mình mạnh mẽ chính là minh chứng sống động nhất cho tầm nhìn vượt thời đại của đồng chí. 

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đi xa, nhưng tinh thần "suy nghĩ ngày đêm vì dân" và những di sản mà đồng chí để lại vẫn mãi là "sợi chỉ đỏ" dẫn đường, tiếp thêm ngọn lửa niềm tin cho các thế hệ hôm nay trong công cuộc xây dựng một Việt Nam phồn vinh và hạnh phúc.

Thông tin cá nhân
Họ và tên: Phạm Văn Đồng; Tên gọi khác: Tô
Ngày sinh: 01/03/1906
Ngày mất: 29/4/2000
Quê quán: Xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi

Tóm tắt quá trình công tác
- Năm 1926: Gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
- Cuối năm 1927: Về nước, tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn. Đến năm 1929 được cử vào Kỳ bộ thanh niên Nam Kỳ; sau đó, vào Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
- Tháng 5/1929: đi Hương Cảng dự Đại hội của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, sau đó về Sài Gòn hoạt động cách mạng.
- Tháng 7/1929: Bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, đày ra Côn Đảo.
- Tháng 7/1936: Ra tù về Hà Nội tiếp tục hoạt động cách mạng.
- Tháng 5/1940: Sang Côn Minh (Trung Quốc) gặp Nguyễn Ái Quốc; tại đây, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (năm 1940) và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ cách mạng ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.
- Tháng 8/1945: Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.
- Năm 1945: Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, giữ chức Bộ trưởng Tài chính, Phó Trưởng ban Thường vụ Quốc hội (khóa I).
- Tháng 6/1946: Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Fôngtenơblô (Fontainebleau) Pháp. Khi chiến tranh Đông Dương bùng nổ, đồng chí được cử làm đại diện của Đảng và Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ.
- Năm 1947: Được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (uỷ viên chính thức từ năm 1949). Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (7-1949).
- Tại Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương (năm 1951), được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng.
- Năm 1954: Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Giơnevơ (Geneve) về Đông Dương.
- Từ tháng 9/1954 đến tháng 02/1961: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

khong-duoc-xac-nhan-192954-1774824466.crdownload
Hình ảnh vợ chồng Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1948. Ảnh do gia đình cung cấp.

- Từ 1955-1981: Thủ tướng Chính phủ.
- Năm 1981-1987: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
- Đồng chí Phạm Văn Đồng là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (1947), Ủy viên chính thức (1949). Ủy viên Bộ Chính trị các khóa II, III, IV, V (2.1951-1986). Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ tháng 12-1986 đến năm 1997). Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV, V, VI, VII (từ năm 1946 - 1987). 
Đồng chí được tặng thưởng:
- Huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác;
- Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng;
- 8 Huân chương cao quý do quốc tế tặng.
https://nguonluc.com.vn/cac-vithu-tuong-chinh-phu-tu-ngay-lap-nuoc-den-nay-a23934.html
https://nguonluc.com.vn/chu-tich-chinh-phu-lam-thoi-ho-chi-minh-vi-thu-tuong-dau-tien-a23961.html
https://nguonluc.com.vn/ong-pham-van-dong-nguoi-co-32-nam-lam-thu-tuong-chinh-phu-viet-nam-a23980.html
(Còn nữa)

Nguyên Thảo (st)