Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh – vị Thủ tướng đầu tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đứng đầu Chính phủ Lâm thời, từ ngày 28/8/1945 đến ngày 2/3/1946, đã tự đánh giá trước Quốc hội: “Dù sao mặc lòng, tôi xin thay mặt Chính phủ cũ mà trình với Quốc hội, với Chính phủ mới, với Quốc dân là hết sức đem tài năng cống hiến cho Tổ quốc”. Thông tin trên được đăng trên Việt Nam Dân quốc Công báo, số 15, ngày 13/4/1946.

Cụ Hồ Chí Minh là vị Thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ra mắt ngày 2/9/1945. Trong bản tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh kiêm nhiệm hai chức danh là Chủ tịch Chính phủ lâm thời và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

ban-trinh-bay-noi-bo-cong-ty-1774480470.webp
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập trên cơ sở cải tổ của Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Ảnh báo Nhân dân.

Bác Hồ đảm nhiệm 2 chức vụ này từ ngày 28/8/1945 đến 2/3/1946 và tiếp tục kiêm Bộ trưởng Ngoại giao từ 3/11/1946 đến tháng 3/1947.

Bác Hồ với vai trò là người đứng đầu Chính phủ

Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Chính phủ Lâm thời được thể hiện ở các mảng hoạt động cơ bản của Chính phủ gồm:

Thứ nhất, sau thành công của Cách mạng tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh đứng đầu Chính phủ lâm thời để lãnh đạo đất nước trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc".

Thứ hai, với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao, Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo các hoạt động đối ngoại quan trọng, đặc biệt là việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 với Pháp để câu giờ và chuẩn bị lực lượng.

Thứ ba, đến tháng 3/1946, khi thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, chức danh Bộ trưởng Ngoại giao được chuyển giao cho ông Nguyễn Tường Tam.

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, tận tụy phục vụ Nhân dân và lợi ích dân tộc.

chinh-phu-lam-thoi-1774480409.jpg
Chính phủ Lâm thời ra mắt Quốc dân đồng bào. Ảnh Tư liệu.

Các sắc lệnh được ban hành kịp thời

Ngay sau khi thành lập, Chính phủ Cách mạng Lâm thời ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái, với lý do các đảng này "tư thông với ngoại quốc", làm "phương hại đến nền độc lập Việt Nam", như: Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng... nhằm kịp thời trừng trị "bọn phản cách mạng", "bảo vệ" chính quyền non trẻ đồng thời "giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác" cho Nhân dân. Cùng với đó là giải tán các nghiệp đoàn để kiểm soát nền kinh tế, thống nhất các tổ chức thanh niên (vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam). Đồng thời Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh thành lập Ủy ban Cách mạng Lâm thời các cấp.

Những chỉ đạo giải quyết các vấn đề cấp bách của đất nước

Trong cuộc họp đầu tiên của Chính phủ Cách mạng Lâm thời (3/9/1945), toàn bộ các thành viên trong Chính phủ đã thống nhất các phương pháp Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh đã đề xuất, tổ chức chỉ đạo Ủy ban Cách mạng Lâm thời các cấp tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách của đất nước, bao gồm:

1) Giải quyết nạn đói bằng việc phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất và đề nghị mười ngày một lần, tất cả đồng bào ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo.

2) Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.

3) Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

4) Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. 5) Đề nghị bỏ các thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.

tuyencaothanhlapchinhphu-16934449791261086556975-1774480897.jpg
Ảnh Tư liệu.

6) Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương giáo đoàn kết.

Quỹ độc lập

Theo Quyết nghị của Chính phủ, ngày 4/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ký ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" với mục đích "để thu nhận các món tiền và đồ vật của Nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của Quốc gia". Tiếp sau đó, cũng trong khuôn khổ Quỹ độc lập, Chính phủ đã đề ra biện pháp tổ chức "Tuần lễ Vàng" từ ngày 17-24/9/1945.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào toàn quốc nhân dịp "Tuần lễ Vàng", nêu rõ mục đích của việc lập quỹ là "thu góp số vàng trong Nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng". Chính phủ đã huy động được tổng cộng 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Ngân quỹ quốc gia đã có hàng trăm triệu đồng.

Riêng tại Hà Nội, trong "Tuần lễ vàng" nhân dân đã góp được 2.201 lạng vàng, 920 tạ thóc cùng tiền bạc và các hiện vật khác, tổng trị giá lên 7 triệu đồng Đông Dương. Số tiền này được dùng để mua vũ khí của quân đội Nhật bị quân đội Trung hoa Dân quốc tịch thu và để hối lộ cho các tướng lĩnh Trung Hoa đang đóng quân tại miền Bắc Việt Nam.

Cùng các hình thức tổ chức "Quỹ độc lập", tuần lễ vàng chính quyền cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức khuyến khích để Nhân dân có điều kiện tham gia đóng góp cho tài chính đất nước với hình thức tự nguyện như lập "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân" và "Ngày Nam Bộ"... Sự đóng góp, ủng hộ nhiệt tình của nhân dân đã góp phần giải quyết khó khăn về tài chính của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Diệt giặc đói

Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức lễ phát động phong trào cứu đói tại Nhà hát lớn Hà Nội. Chính phủ còn phái một ủy ban vào Nam bộ tổ chức vận chuyển gạo ra Bắc. Chính phủ cũng kêu gọi các hội buôn và người dân tham gia vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc.

Việc vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc chỉ thực hiện được trong tháng 9/1945 với số lượng không quá 30.000 tấn do chiến tranh bùng nổ khi Pháp đưa quân đội vào Nam Kỳ. Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo". Chính phủ cũng chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm 1946, hệ thống đê tại miền Bắc đã sửa xong.

Để giải quyết tận gốc nạn đói, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi Nhân dân tăng gia sản xuất. Chính phủ còn vận động tư nhân cho mượn các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất. Mỗi địa phương lập ra một tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản xuất, lương thực làm ra được dùng để cứu tế.

Cuối năm 1945 đầu 1946 không còn kịp thời vụ để trồng lúa nữa, nên chính phủ phát động dành phần lớn đất đai để tranh thủ trồng liên tiếp hai vụ màu (khoai lang, đậu, bắp...) bù cho phần lúa thiếu hụt. Kết quả sản lượng màu đã tăng gấp 4 lần so với thời kỳ trước năm 1945. Chỉ trong 5 tháng từ tháng 11/1945 đến tháng 5/1946 đã đạt 614.000 tấn, tương đương 506.000 tấn lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945.

Diệt giặc dốt

Để xóa mù chữ, từ ngày 8/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam, Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối, Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền. Để phục vụ chiến dịch xoá mù chữ, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày 18/9/1945.

Ngày 4/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Chống nạn thất học gửi tới toàn dân: "...Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi."

Các lớp học Bình dân học vụ được mở khắp nơi ở cả ba miền thu hút sự tham gia của mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp Nhân dân. Người biết chữ dạy cho người không biết chữ. Đến tháng 9/1946, phong trào Bình dân học vụ đã tổ chức được 75.000 lớp học với trên 95.000 giáo viên, trên 2.500.000 người được phong trào dạy biết đọc, biết viết.

Hoàn thành sứ mệnh lịch sử

Sáng 2/3/1946, Quốc hội do tổng tuyển cử được Nhân dân cả nước bầu ra bằng hình thức phổ thông đầu phiếu cho tất cả công dân từ đủ 18 tuổi trở lên, nam nữ bình đẳng, đã họp phiên đầu tiên. Đại diện của 333 đại biểu Quốc hội của khắp ba miền bắc - trung - nam trong cả nước đã tề tựu về Nhà hát Lớn (Hà Nội).

Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời báo cáo công việc đã làm trong 6 tháng đã qua và tuyên bố: “Bây giờ, Chính phủ xin giao lại quyền cho Quốc hội để tổ chức một chính phủ mới: Chính phủ kháng chiến và kiến quốc”.

Chính phủ do Quốc hội bầu ra ngày 2/3/1946 gồm 10 Bộ cùng hai cơ quan trực thuộc là Cố vấn đoàn và Kháng chiến ủy viên hội (sau đổi thành quân ủy hội).

Như vậy, tính từ ngày 28/8/1945 ra mắt đến ngày kết thúc 2/3/1946, Chính phủ Lâm thời đã có 181 ngày hoạt động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tóm tắt hoạt động của Chính phủ lâm thời ngắn gọn trong 4 điểm khi báo cáo trước Quốc hội (ngày 2/3/1946) như sau: “Việc thứ nhất là ra sức kháng chiến. Việc thứ hai là giảm bớt sự đói kém bằng cách thực hành tăng gia sản xuất. Việc thứ ba là Chính phủ đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử. Việc thứ tư là do kết quả cuộc Tổng tuyển cử ấy mà có Quốc hội hôm nay” (Việt Nam Dân quốc Công báo, số 15, ngày 13/4/1946).

images2369877-t4-2-1774480967.jpg
Ảnh báo Đồng Nai.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 5 lần kiện toàn Chính phủ

PGS.TS. Hà Minh Hồng, Giảng viên cao cấp Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM, tác giả chủ biên ấn phẩm Bác Hồ với Chính phủ Việt Nam, bày tỏ: Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị kiến trúc sư trưởng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - đã làm được 4 việc lớn có ý nghĩa mang giá trị “phát kiến” ngay từ những ngày đầu nền dân chủ cộng hòa - những ngày đầu của Quốc hội đầu tiên, Chính phủ cách mạng đầu tiên. Càng trải qua thời gian (hơn 75 năm, 14 khóa Quốc hội…) càng cho thấy giá trị lịch sử, giá trị thực tiễn.

“Và trước khi nói đến phát kiến giá trị, chúng ta hãy biết rằng, trong hơn 1 năm kể từ lúc khai sinh ra nền dân chủ cộng hòa (2/9/1945) đến trước khi bước vào Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 4 lần kiện toàn Chính phủ: Năm 1945 - 2 lần, năm 1946 - 2 lần.

Khi kết thúc kháng chiến chống thực dân Pháp (vẫn trong nhiệm kỳ khóa I), Người lại kiện toàn lần nữa - tổng cộng là 5 lần. Việc kiện toàn đó cho thấy sự thấu hiểu yêu cầu và nhiệm vụ lịch sử về một Chính phủ của dân, do dân, vì dân; là quá trình rèn luyện một Chính phủ công bộc; cũng là thời gian đủ để Nhân dân trông thấy trong thực tế và chiêm nghiệm về những người đại diện cho dân được bầu lên qua kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội đầu tiên (6/1/1946)”,  PGS.TS. Hà Minh Hồng chia sẻ với báo Đồng Nai cuối tuần ngày 19/5/2021.

Đặt quyền lợi dân “lên trên hết thảy”

Bác Hồ nêu cao bản chất Chính phủ của dân, do dân, vì dân, Chính phủ công bộc phải là “Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người”. Từ người đứng đầu Chính phủ - Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến các thành viên Chính phủ và tất cả các bộ, ngành đều “đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”.

chinh-phu-lam-thoi-1774481905.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. Tại phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải có một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam. Ảnh TTXVN.

Chia sẻ cảm nhận và phân tích về ý trên của Bác, PGS.TS Hà Minh Hồng đánh giá: “Bác đặt ra yêu cầu như thế không phải là cao, bởi suy cho cùng bất cứ một người cán bộ nào từ lãnh đạo cao cấp đến lãnh đạo các cấp dưới đều từ một người dân mà đi lên, trước hết là một người dân, bản thân người cán bộ và gia đình của anh là những công dân - Công dân, người dân luôn mong muốn cán bộ đi sâu đi sát dân, tức là đi sâu đi sát thực tế cuộc sống, đơn giản vậy thôi, nếu đơn giản vậy mà không làm được thì rất phi lý”.

Nhưng cần nhận rõ: Đây không phải yêu cầu của cá nhân con người Bác Hồ, mà là yêu cầu của Chính phủ của dân, do dân, vì dân - yêu cầu nhiệm vụ lịch sử của chính quyền mới, chính quyền cách mạng mưu tự do hạnh phúc cho mọi người - đông đảo các tầng lớp nhân dân (khác với chính quyền thực dân phong kiến tay sai mưu lợi nhuận tư bản, áp bức bóc lột nhân dân). Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là khát vọng, là mục tiêu phấn đấu, Chính phủ Nhân dân là tập hợp những con người của dân, do dân, vì dân nên Chính phủ phải biết làm việc cho mục tiêu khát vọng ấy.

Đặt “quyền lợi dân lên trên hết thảy” là yêu cầu, nhiệm vụ, là trọng trách, chức năng, cũng là đạo đức cao cả của người cán bộ Chính phủ - những người được dân bầu lên, cử lên Chính phủ, như: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “là người lính vâng mệnh quốc dân”.

“Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bốn phát kiến giá trị thực tiễn của Bác Hồ với Chính phủ

Theo PGS.TS Hà Minh Hồng thì 4 phát kiến thực tiễn của Thủ tướng Hồ Chí Minh đối với Chính phủ còn nguyên vẹn giá trị đến ngày hôm nay. Cụ thể gồm:  

Một là, lập cho được một chính phủ có nhiều thành phần, luôn mở rộng thành phần trong một quốc gia thống nhất (dù lâm thời hay chính thức, liên hiệp hay quốc gia kháng chiến) đều gồm nhiều đại diện của các đảng phái, đoàn thể, ngày càng mang tính dân chủ hơn, mở rộng thành phần tham gia, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân.

Hai là, xác định cho được mục tiêu mục đích và biện pháp thực hiện mục tiêu, mục đích nhất quán ấy (nêu ra ngay từ đầu đến cuối - kể cả lúc thế nước ngàn cân treo sợi tóc và trong kháng chiến trường kỳ): Vì độc lập và giữ vững độc lập, muốn vậy chỉ một cách để thực hiện là đoàn kết, hợp tác để có sức mạnh đoàn kết.

images2369876-t4-1-1774481775.jpg
Ảnh Tư liệu.

Ba là, phải dựa trên cơ sở pháp lý nền dân chủ để có một chính phủ hợp hiến hợp pháp - Hội đồng Chính phủ Lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đưa đến sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã củng cố tính pháp lý của Nhà nước Việt Nam mới; qua đó các kỳ họp Quốc hội là cơ sở trực tiếp cho Chính phủ thành lập, củng cố, kiện toàn, đặc biệt là xây dựng và ban hành Hiến pháp dân chủ.

Bốn là, phải xây dựng một Chính phủ theo nguyên tắc Chính phủ đoàn kết tập hợp nhân tài, Chính phủ liêm khiết, Chính phủ “biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích, trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà” (kỳ họp thứ hai tháng 10 và 11/1946). Muốn có Chính phủ như vậy thì phải có người đứng đầu nêu gương liêm khiết, mẫu mực đoàn kết thống nhất, cán bộ Chính phủ phải được rèn luyện thành cán bộ công bộc, làm đày tớ cho dân.

https://nguonluc.com.vn/cac-vithu-tuong-chinh-phu-tu-ngay-lap-nuoc-den-nay-a23934.html

(Còn nữa)

Nguyên Thảo (st)