Khơi dậy niềm tự hào và sức sống nội sinh của con người Việt Nam
Cái chất văn hóa trong con người Phạm Văn Đồng không đến từ những triết lý xa vời, mà bắt nguồn từ sự am hiểu sâu sắc di sản dân tộc và sự nhạy bén với tinh thần thời đại. Ông Phạm Văn Đồng là người dành cả cuộc đời để vun đắp cho việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, coi đó là linh hồn của dân tộc.

Những bài viết, bài nói chuyện, phát biểu của ông về cụ Nguyễn Đình Chiểu, về cụ Nguyễn Du hay về Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở mức độ phê bình văn học, mà đã trở thành những tiểu luận văn hóa mẫu mực, khơi dậy niềm tự hào và sức sống nội sinh của con người Việt Nam trong những giai đoạn ngặt nghèo nhất của cuộc kháng chiến.
Đặc biệt, đạo đức văn hóa của ông Phạm Văn Đồng gắn liền mật thiết với tư tưởng đại đoàn kết của người thầy Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng gian khổ, ông chính là người được Bác Hồ tin tưởng giao nhiệm vụ phụ trách hướng "Tây tiến", trực tiếp chỉ đạo xây dựng Chiến khu Thiện Thuật, Chiến khu Châu Chí Kiên... Ông đi đến đâu cũng được Nhân dân yêu mến, quý trọng. Bí quyết của ông chính là sự chân thành và tôn trọng tuyệt đối phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số. Ông ăn cùng, ở cùng và nói tiếng nói của đồng bào, dùng sự nhân văn để cảm hóa và kết nối mọi tầng lớp nhân dân quanh ngọn cờ đại nghĩa.
Trên bình diện quốc tế, phong cách ngoại giao văn hóa của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã để lại những ấn tượng sâu đậm. Tại các hội nghị quốc tế hay trong những chuyến công du, ông luôn xuất hiện với một phong thái điềm tĩnh, lịch thiệp và đầy trí tuệ. Ông không chỉ dùng lý lẽ chính trị mà còn dùng sức mạnh của chính nghĩa và văn hóa để thuyết phục bạn bè thế giới.

Cách ông tiếp cận các vấn đề toàn cầu luôn thấm đẫm tinh thần nhân văn, yêu chuộng hòa bình và sự thấu cảm giữa các dân tộc.
Tư duy của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Đại đoàn kết là một giá trị văn hóa bền vững
Đối với thế hệ trẻ, ông luôn đau đáu về một nền giáo dục toàn diện - nơi không chỉ dạy chữ mà còn dạy làm người. Ông Phạm Văn Đồng tin rằng, văn hóa chính là "sức mạnh mềm", là sợi dây gắn kết quá khứ với hiện tại và tương lai.
Trong tư duy của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đại đoàn kết là một giá trị văn hóa bền vững, được xây dựng trên nền tảng của lòng nhân ái và sự thấu cảm sâu sắc. Ông quan niệm, muốn đoàn kết, trước hết phải hiểu và trọng văn hóa của nhau. Sức mạnh đại đoàn kết thể hiện rõ nét nhất trong cách ông tiếp cận đồng bào các dân tộc thiểu số.
Cụ thể, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến với đồng bào bằng tâm thế của một người con đi học hỏi, chú trọng việc cán bộ phải biết tiếng dân tộc, hiểu phong tục tập quán, kính trọng các già làng, trưởng bản. Với Thủ tướng, văn hóa của mỗi dân tộc anh em là một mảnh ghép quý giá tạo nên bức tranh toàn cảnh của dân tộc Việt Nam. Khi ông cùng ăn thắng cố, cùng uống rượu cần, cùng nói tiếng Nùng, tiếng Tày, ông đã xóa nhòa ranh giới giữa chính quyền và Nhân dân, biến lý tưởng cách mạng thành niềm tin tự thân của mỗi người dân vùng cao.

Dùng văn hóa để đối thoại
Trong các cuộc tiếp xúc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn lắng nghe bằng sự tinh tế của một trí thức lớn, dùng sự chân thành để hóa giải những nghi ngại. Đối với ông, đoàn kết là nghệ thuật tìm ra "điểm chung" cao nhất: Đó là lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Chính sự bao dung văn hóa này đã tạo nên một mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn, vững chắc như bàn thạch.
Một điểm đặc sắc khác là Thủ tướng gắn kết đại đoàn kết với việc giữ gìn bản sắc dân tộc, cổ vũ việc giữ gìn tiếng Việt, các lễ hội truyền thống và đạo lý "uống nước nhớ nguồn". Thủ tướng nhìn nhận đoàn kết là sự tiếp nối: Thế hệ đi trước dìu dắt thế hệ sau, quá khứ tiếp lực cho hiện tại. Tinh thần "Đại đoàn kết" của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không dừng lại ở con người, mà là sự đoàn kết của các giá trị: Lấy tinh hoa của nhân loại để làm giàu thêm bản sắc Việt, tạo nên một sức mạnh nội sinh đủ sức đương đầu với mọi thế lực ngoại bang.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhiều trăn trở với giáo dục
Với lĩnh vực giáo dục Thủ tướng cũng trăn trở rất nhiều. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng đi khảo sát ở rất nhiều trường, từ tiểu học đến đại học và nhận thấy cách dạy của chúng ta chưa đạt, chưa lấy học sinh làm trung tâm, thày đọc trò chép nên chưa phát huy được khả năng của học sinh, nhất là ở bậc đại học.
Đại đoàn kết trong tư duy văn hóa Phạm Văn Đồng còn là sự khoan dung, trọng dụng nhân tài và tri thức, bất kể xuất thân. Ông là người có khả năng quy tụ các nhân sĩ, trí thức, những người có tư tưởng tiến bộ nhưng còn khác biệt về quan điểm chính trị, về chung một ngọn cờ đại nghĩa.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng lo đến tất cả các vấn đề của giáo dục, từ việc dạy gì, dạy như thế nào, phương pháp dạy ra sao để thầy phải ra thầy, trò phải ra trò, học ra học; phải đào tạo thầy thế nào để có thầy giỏi từ đó có trò giỏi. Đồng thời, Thủ tướng cũng tính đến cả việc xây dựng cơ sở vật chất để trường phải ra trường.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết một cuốn sách về vấn đề giáo dục, đề cập từ lớp trẻ mẫu giáo đến bậc đại học. Theo Thủ tướng, ngoài phương pháp ra thì cần có hệ thống giáo dục hợp lý, làm sao để có hệ thống dạy nghề phát triển ở các tỉnh dể các em học xong cấp 2 hoặc cấp 3 đã có thể phân luồng.
Ông Phạm Văn Đồng nhấn mạnh tính toàn diện, yêu cầu dạy người trước khi dạy chữ, coi giáo dục là quốc sách, là tương lai của dân tộc. Phải xây dựng trường ra trường, lớp ra lớp, dạy ra dạy, học ra học. Những chỉ dẫn ấy của ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Ông Phạm Văn Đồng có những tư tưởng sâu sắc, tâm huyết về giáo dục. Ông là Chủ tịch Ủy ban Cải cách giáo dục Trung ương nhiều năm, đồng chí yêu cầu: Mỗi thầy giáo phải trả lời cho được câu hỏi: Dạy cái gì? Dạy để làm gì? Nhà trường phải coi trọng giáo dục toàn diện cho học sinh, cả đức dục, trí dục, thể dục và mỹ dục. Phải làm và làm tốt giáo dục đạo đức cách mạng. Phải xây dựng trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra học; phải xác định rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc.
Đồng chí rất quan tâm đến việc nghiên cứu và giảng dạy đạo đức học, phải làm thế nào để môn học này “trở nên một ngành của khoa học xã hội… một môn học không thể thiếu được trong các trường đại học và giáo dục phổ thông”.
Những tư tưởng trên đây của Phạm Văn Đồng về giáo dục vẫn có ý nghĩa thời sự cấp bách đối với hiện nay ở nước ta, nhất là trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng cũng là người đặt nền móng quan trọng cho việc nghiên cứu, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ tác phẩm “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc” mà ông viết năm 1948 đến hàng loạt công trình công bố sau này đã góp phần hệ thống hóa, làm sáng rõ giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thủ tướng Phạm Văn Đồng chính là một trong những người đặt nền tảng cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học ở Việt Nam.
Quan niệm về văn hóa và đổi mới của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Trong lời mở đầu của tác phẩm “Văn hóa và đổi mới”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đặt một vấn đề cấp thiết rằng: “Văn hóa và đổi mới là một đề tài có tính thời sự nóng hổi... nó mở ra những chân trời mới cho sự suy nghĩ và nghiên cứu, và từ đó vận dụng và thực hiện trong cuộc sống...”
Đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng, "văn hóa và đổi mới" là quá trình vận động mang tính cách mạng và biện chứng chi phối đời sống xã hội, cần phải “nhận thức và vận dụng một cách thích hợp và có hiệu quả các quy luật của xã hội, con người cũng như của thế giới tự nhiên”. Đây cũng là tư tưởng xuyên suốt trong tác phẩm “Văn hóa và đổi mới” của đồng chí Phạm Văn Đồng.
Một trong những hệ giá trị đầu tiên được bàn đến trong “Văn hóa và đổi mới” là quan hệ giữa văn hóa và lịch sử. Trong tư tưởng của ông, giỗ tổ Hùng Vương không chỉ có giá trị lịch sử mà có giá trị văn hóa. Đây là sự kết tinh truyền thống văn hiến cao đẹp của dân tộc, rõ nhất là giá trị cố kết cộng đồng mà biểu hiện là văn hóa làng, một giá trị độc đáo làm nên sức mạnh dân tộc. Và hệ giá trị văn hóa làng độc đáo của dân tộc đã được đồng chí Phạm Văn Đồng nói đến trong “Văn hóa và đổi mới” với một nhận thức mới mang tầm thời đại.

Theo đồng chí Phạm Văn Đồng, văn hóa có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự vận động và phát triển của lịch sử xã hội loài người. Văn hóa chính là bệ phóng đưa con người từ “vương quốc tất yếu” đến “vương quốc tự do”. Và với một quan điểm duy vật biện chứng khi nhìn lại lịch sử loài người, đồng chí khẳng định: “Vị trí, vai trò và tác dụng của văn hóa, một chiến công biết bao quý báu của con người, đã góp phần rất lớn trong việc “giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người”, mà đỉnh cao là sự phát triển tự do và toàn diện của mọi người.
Đây cũng sẽ là đỉnh cao của sự phát triển văn hóa trong toàn bộ lịch sử loài người”. Như vậy, trong tư tưởng của đồng chí Phạm Văn Đồng, nền văn hóa dân tộc cũng như nền văn hóa nhân loại là “tính cộng đồng” và “xu hướng nhân văn hướng về con người”. Đây là những hằng số giá trị của mọi nền văn hóa, là cái gốc tạo nên giá trị văn hóa Việt, là tiền đề tạo nên giá trị văn hóa và đổi mới.
Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế
Một vấn đề cấp thiết khác cũng được đồng chí Phạm Văn Đồng quan tâm khi bàn về văn hóa và đổi mới đó là mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế. Với quan điểm nhân văn, đồng chí nhìn vấn đề phát triển kinh tế trong mối quan hệ biện chứng với văn hóa mà mục tiêu hướng đến là phụng sự con người. Theo đồng chí Phạm Văn Đồng, “kinh tế, nói rộng ra là sự phát triển, gắn với văn hóa là nhằm phục vụ con người, phục vụ cộng đồng dân tộc”. Và với đồng chí Phạm Văn Đồng, “đổi mới là sự nghiệp của văn hóa và trí tuệ. Đổi mới trong việc phát triển nền kinh tế thị trường... đó cũng là vấn đề văn hóa và trí tuệ”.

Với phương pháp tư duy khoa học và cái nhìn biện chứng về quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trên nền giá trị của tính nhân văn, đồng chí Phạm Văn Đồng đã phân tích sâu sắc và tinh tế về mối quan hệ hữu cơ giữa văn hóa và xã hội. Và vấn đề cần thiết trong quá trình đổi mới đất nước là phải xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh, để làm cơ sở phát triển nhân cách văn hóa con người.
Vì nếu “để môi trường xã hội ngày càng bị ô nhiễm với những hiện tượng suy đồi có chiều hướng lan rộng ra và thấm sâu vào cuộc sống của con người, thì đó là một nguy cơ thực sự”. Để làm được điều này, một vấn đề cần quan tâm là việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trên cả 2 bình diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Bởi lẽ, chỉ có trên cái nền văn hóa truyền thống mới xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh.
Có thể thấy, tư tưởng về văn hóa và đổi mới của đồng chí Phạm Văn Đồng không chỉ bó hẹp trong phạm vi văn hóa mà còn liên quan đến nhiều vấn đề của đời sống chính trị, xã hội. Đây là vấn đề không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Bởi lẽ, “đổi mới đã đem lại những thành tựu rất quan trọng, bởi nó hợp với quy luật của nước ta và xu thế của thời đại”.

Chính cái nhìn biện chứng này đã cho ta thấy tư duy minh triết của một nhà văn hóa với nhân cách lớn - nhân cách Phạm Văn Đồng. Văn hóa và đổi mới trong tư tưởng của đồng chí Phạm Văn Đồng là văn hóa của tương lai nên nó sẽ sống mãi trong “dòng sinh mệnh văn hóa” dân tộc...
Theo đồng chí, văn hóa là “hiểu biết, khám phá và sáng tạo”, “văn hóa là quá trình con người và cộng đồng con người ở từng nơi và ở mọi nơi đoàn kết và phấn đấu qua biết bao gian khổ và hy sinh để từng bước, từng phần tự khẳng định mình, từng bước, từng phần thoát khỏi thân phận bị tha hóa, dần dần trở thành con người tự do”.
Theo đồng chí Phạm Văn Đồng, công tác văn hóa là công tác tư tưởng, công tác giáo dục; văn hóa, văn nghệ có tác dụng sâu sắc, thấm thía, lâu bền nhất. Điều đó cũng chính là thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.
Là người đứng đầu Chính phủ, bận trăm công nghìn việc, song đồng chí rất quan tâm tới giới trí thức, văn nghệ sĩ với tình cảm chân thành như một người bạn. Đồng chí luôn chăm lo, vun đắp những tài năng khoa học cho đất nước, sẵn sàng trao đổi, đối thoại tâm tình, thẳng thắn, gần gũi, lắng nghe ý kiến của tất cả.
Ngay từ khi tham dự Hội nghị Fontainebleau năm 1946, Phạm Văn Đồng đã cảm hóa và quy tụ nhiều trí thức yêu nước ở Pari trở về nước tham gia chiến đấu giành độc lập cho Tổ quốc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng là một trong những nhà lãnh đạo luôn quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục. Những chỉ dẫn của ông về phương pháp dạy và học, những yêu cầu của ông về trường, lớp; về dạy và học; về thầy và trò vẫn mang giá trị đến hôm nay. Là người viết về lãnh tụ Hồ Chí Minh rất sớm, Phạm Văn Đồng đã có những tác phẩm làm lay động lòng người.
Đồng chí yêu cầu người trí thức, văn nghệ sĩ “phải sống với cuộc chiến đấu, sống với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nghĩa là sống cái hiện thực vĩ đại nhất của Nhân dân ta, mà đồng thời cũng là hiện thực vĩ đại của Nhân dân thế giới”, phải đắm mình trong hiện thực vĩ đại của Nhân dân mới có sáng tạo, mới có những tác phẩm hay. Người văn nghệ sĩ phải có vốn sống, phải “lăn lộn trong đời sống, hiểu đời sống”. Đồng chí đòi hỏi văn nghệ sĩ phải thường xuyên rèn luyện lập trường tư tưởng và bản lĩnh chiến đấu: “Hãy sống và chiến đấu như những chiến sĩ dũng cảm của dân tộc mình, phát huy mọi tài năng của mình để xây dựng hạnh phúc của Nhân dân”.
Trong tác phẩm Văn hóa và đổi mới, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trình bày mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và đổi mới: “Văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn hóa, như vậy hai là một và một thành hai”. Đồng chí đã phân tích sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và kinh tế, văn hóa và xã hội, văn hóa và hệ thống chính trị, văn hóa và xu thế đổi mới.
Từ đó, đồng chí kết luận “đổi mới thật sự là văn hóa và văn hóa mới hòa nhập như một với đổi mới”, “đổi mới là sự nghiệp của văn hóa và trí tuệ”, phải đem “ánh sáng của văn hóa vào hoạt động kinh tế”, đổi mới không phải là xóa bỏ quá khứ mà là làm sống lại cái quá khứ cần khôi phục, bảo tồn và bảo quản, tất nhiên phải biết kết hợp với cái hiện đại một cách thích hợp.

Đồng chí nhấn mạnh: “Chiến lược con người là sự kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, trong đó văn hóa, xã hội nhập vào kinh tế như một nhân tố bên trong, hơn thế nữa, như mục tiêu và động lực của tăng trưởng kinh tế. Sự kết hợp hữu cơ này là một nét truyền thống thể hiện bản sắc của dân tộc ta, một nội dung cơ bản trong định hướng xã hội chủ nghĩa của chế độ ta, phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại ngày nay”.
Như vậy, bằng sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện về văn hóa và thực tiễn - lịch sử của dân tộc với tầm cao văn hóa và thế giới quan cách mạng của người cộng sản, Phạm Văn Đồng đã nâng tư duy về văn hóa lên tầm lý luận mang tính triết lý, khái quát cao. Đồng chí đã có đóng góp to lớn không chỉ cho cách mạng nói chung mà còn cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa của nước nhà.
Thiết nghĩ những tư tưởng, chỉ dẫn của Phạm Văn Đồng về văn hóa sẽ tiếp tục có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với nước ta trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa như nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã khẳng định.
https://nguonluc.com.vn/cac-vithu-tuong-chinh-phu-tu-ngay-lap-nuoc-den-nay-a23934.html
https://nguonluc.com.vn/chu-tich-chinh-phu-lam-thoi-ho-chi-minh-vi-thu-tuong-dau-tien-a23961.html
https://nguonluc.com.vn/ong-pham-van-dong-nguoi-co-32-nam-lam-thu-tuong-chinh-phu-viet-nam-a23980.html
https://nguonluc.com.vn/thu-tuong-pham-van-dong-nguoi-dat-nen-mong-cho-phat-trien-nen-kinh-te-tu-luc-tu-cuong-a24039.html
(Còn nữa)