
Cuộc định vị lần thứ ba – phải chăng sẽ là cuộc định vị cuối cùng – đó là cuộc định vị Con người trong Cõi đời (thế gian) đã đến với Trần Nhuận Minh không quá muộn, và tôi đã tìm ra dấu ấn đầu tiên của nó ở bài thơ Chiều Yên Tử, nội dung hơn ở hai câu cuối bài thơ Chiều Yên Tử.
Chiều Yên Tử, Trần Nhuận Minh viết vào năm 1983, ở tuổi bốn mươi, được đưa vào Nhà thơ áp tải (1989), rồi được đặt lên đầu các tuyển Nhà thơ và Hoa Cỏ (1992, và các năm tiếp theo), với các câu hỏi về cõi đời, về con người, về hạnh phúc và về kiếp sau. Những câu hỏi đặt ra cho mỗi người, và cho cõi thế nói chung – nhưng xem ra cho đến nay vẫn chưa ai trả lời được. Kể cả anh là nhà thơ: “Tôi chưa tìm thấy tôi”. Câu hỏi đó, một thời dài, là nhà thơ công nhân, với lòng tin tuyệt đối vào bản thân và cuộc thế, anh chưa đặt ra. Thế mà vào một cuộc lên chùa nào đó, anh chợt thấy cái nhu cầu tìm tại để trở về mình là một nhu cầu có thực; và trong tiếng chuông chùa đã diễn ra một cuộc hành hương trong tâm tưởng của nhân quần, trong đó có anh:
Mỗi người một câu hỏi
Đi mang mang trong đời
Nổi chìm bao ghềnh thác
Tôi chưa tìm thấy tôi...
Và khi chuông tắt, con người bỗng trở nên bơ vơ trong cổ tích, âm u của rừng già:
Những mảnh hồn thao thức
Bơ vơ trong sương mù...
Đây là bản in năm 1993 – bản in đầu tiên của Nhà thơ và Hoa Cỏ. Còn ở bản in năm 1989 ở Nhà thơ áp tải, hai câu cuối trôi theo một ý khác:
Lòng tôi như lá biếc
Ướt đẫm tiếng chim gù
Từ hiện hữu cụ thể: “lá biếc”, “chim gù” chuyển sang trạng thái tâm linh: “bơ vơ”, “thao thức” – đó phải chăng là bước ngoặt cho Nhà thơ áp tải chuyển thành Nhà thơ và Hoa Cỏ.
Trong mảng thơ tả thực – những câu hỏi về đời xem ra là dễ hiểu. Đời bị dồn ra hai phía. Đời trần trụi và xót đắng. Cảm nhận rõ về cuộc đời, anh đã có một chỗ đứng cho câu hỏi: Ta vì ai? Ta thuộc về ai?
Rồi sẽ đến với anh câu hỏi: Ta là ai? – cái câu hỏi mà trước đó 30 năm, trong Ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên đã từng phê phán là siêu hình, là đưa con người vào tăm tối của hư vô... Thế nhưng đó mới chính là câu hỏi lớn bao giờ cũng đòi hỏi cuối cùng, để đẻ ra bao triết thuyết, bao tín ngưỡng, bao tôn giáo trong hành trình không ngừng nghỉ của nhân loại. Và với mỗi đời người thì câu hỏi đó dần dà rồi sẽ đến, sau bao trải nghiệm – kể từ tuổi năm mươi, “tri thiên mệnh”. Với Trần Nhuận Minh xem ra cũng là thế. Sẽ đến với anh bức tranh nhân thế, không chỉ là tả thực mà là hòa trộn với tâm linh, là sự cộng cảm giữa cảnh đời và cảm nhận về đời, để đan lại cho thơ anh một sắc điệu mới với rất nhiều bâng khuâng như trong Bâng khuâng (1992 – sẽ được dùng làm bài mở đầu: Thay lời tựa cho tập thơ Bản Sonat hoang dã (2003)), tôi muốn xem là bài đánh dấu chính thức cho một sự chuyển đổi trong thơ anh. Bâng khuâng là bất chợt, là đột ngột, sau một mở đầu đầy siêu thực:
Mặt núi triệu ngôi sao mờ trong hơi rượu trời
Mây ta chảy qua dải tầng đen thẳm
Lá non tơ màu em biêng biếc sáng
Da thịt cười bồn chồn phía trăng lặng
Là đến ngay một câu hỏi về nhân gian:
Hạt mưa mơ hồ nhuốm làn mây mong manh
Làm ngạt ngào bao nỗi niềm dưới đất
Hư ảo hỡi! Giữa vô cùng Còn Mất
TA là ai? Thăm thẳm có TA chăng?
Trong Vẩn vơ ra đứng... (1996) – một cái tên bài rất bâng khuâng, để nói một trạng thái mơ hồ, không xác định của đời:
Vẩn vơ ra đứng trước nhà
Người qua mà chẳng thấy qua một người
Buồn xưa – Vàng vạt nắng rơi
Nhớ xưa – Gió biếc chân trời mong manh
Chiều nghiêng một sắc vô tình
Tự nhiên, mình chẳng biết mình là ai...
Có Bâng khuâng, tất phải có Vô thức (2001). Cái Vô thức đến với Trần Nhuận Minh sau một sự kiện rất thực được anh ghi ở cuối bài thơ – đó là một tai nạn xe cộ xảy ra trên Quốc lộ số 5, khiến anh chết lâm sàng từ 22 giờ đêm 5-8 đến 2 giờ sáng ngày 6-8-2001. Sau tai nạn, đã đến với anh bài học của “bất khả tri” – là những gì không lường trước được, không biết được, là sự chi phối của cái ngẫu nhiên...
Ta bàng hoàng trước Cái Không Thể Biết
Đang nhào nặn ta trong cõi Vô Cùng
Chả lẽ mỗi chúng người mong manh trên trái đất
Lại là biểu hiện mơ hồ huyền bí của không trung
Thủa bé ta nằm dưới rừng sao dát bạc
Một con thuyền trắng vắt vẻo chở ta đi
Vượt hiểm nguy có khi nhờ Mộng Ảo
Cái Biết nhất đời ta là ta chả biết gì.
Với những Bâng khuâng và Vô thức, với trằn trọc những câu hỏi về Ta, đã xuất hiện một Trần Nhuận Minh từ những năm chín mươi gần như không còn bóng dáng của hai mươi năm về trước. Một Trần Nhuận Minh trong những ngẫm ngợi và nhào nặn lại mọi quan niệm và hình dung về thế giới, để rồi qua mình mà đặt những câu hỏi lớn về đời; và do sự trở về với cái Tôi bản thể (chứ không phải cái Tôi cá nhân và chủ nghĩa cá nhân bị xóa lãng trong suốt một thời dài, nhân danh cái cộng đồng) mà xuất hiện một cô đơn bản thể:
Ta tự tạo ra trời và đạo trời, để giữ gìn ta giữa đời thường cám dỗ
Rồi lại tự lừa dối ta, trong cả cõi linh hồn
Xòe hết ngàn cánh tay, chẳng chạm vào bờ ngát
Ta rùng mình rơi trong muôn thẳm Cô đơn
Để biết mình, để nhận ra gương mặt mình, phải có gương soi. Trong Soi gương (1998), Trần Nhuận Minh tìm đến biển:
Soi mặt xuống Vịnh Hạ Long, ta nhìn thấy ta mà ta không tự biết
Ta có hay không trên cõi đời này?
Rồi sẽ trở lại với anh nhu cầu Tự thuật (2000); nhưng có khác với cái hồn nhiên, đơn giản và vô tư trước đây trong Trình bày, bây giờ, với Tự thuật, đó là con người trong bốn chốn, khắc khoải:
Ngang dọc trong hơn một trời gió muối
Lúc nào cũng yên mà chẳng lúc nào yên
Vừa áp mặt vào đời, trong cảm giác bất lực:
Cả xã hội diệt trừ cái ác
Cái ác vẫn ngang nhiên cười nói giữa đời
… vừa soi sâu vào cái riêng mà cảm thấy bâng khuâng với những khúc cười không giải thích được:
Tôi bâng khuâng trước cánh chim lặng lẽ
Cô đơn bay không biết tới phương nào
Tôi đã khóc dưới vầng trăng sáng
Đến bây giờ vẫn không hiểu vì sao...
Từ Trình bày như một tự truyện giản đơn đến Tự thuật với các đường nét giao thoa giữa cái thực và ảo, giữa cái biết và không biết là chẵn 30 năm.
Từ Trình bày rồi Đá cháy, đến với Bâng khuâng, Vô thức, Tự thuật, Trần Nhuận Minh đã ba lần định vị cho bản thân; và lần thứ ba này, trong định vị giữa Con người và Cõi thế, bài Đi ngang thế gian (2000 – sẽ được dùng làm bài kết thúc: Thay lời bạt cho Bản Sonat hoang dã – 2003) có giá trị một mốc kết:
Sau mọi kiếm tìm, tôi tuyên bố:
Tôi chẳng phải là tôi. Tôi cũng là ai?
…
Như ngẫu nhiên mà có cuộc đời tôi
Thơ tôi ngẫu nhiên mà long lanh như vậy rân
Kim tự tháp dựng im vẫn bay vạn dặm
Kẻ giỏi hạ cây đâu cần đến sức rìu.
Từ cuộc định vị này, sẽ là sự chuẩn bị hành trang cho Trần Nhuận Minh đi tiếp một hành trình mới trong Bản Sonat hoang dã (2003, tái bản lần thứ ba – 2005), với một Tựa đề, được rút từ Kinh Thánh có khác với tất cả mọi Tựa đề trong các tập thơ trước đây của anh:
Hãy gõ cửa rồi cửa sẽ mở
Hãy tìm rồi người sẽ gặp
Có cái gì giống với câu Lỗ Tấn trong Cố hương: “Trên mặt đất làm gì có đường. Do người đi mà thành ra đường...”.
Ở tuổi ngoài sáu mươi, sau chặng đường ngót mười lăm năm đi tìm và định hình gương mặt mình trong Nhà thơ và Hoa Cỏ, Trần Nhuận Minh đã đến được một cái đích đáng nhớ và đáng giá cho hành trình thơ của mình.
Tôi nghĩ đến con đường Chế Lan Viên từ Ánh sáng và phù sa đến Di cảo thơ.
Cũng là sự trở về mình, nhưng với những điểm xuất phát khác, là con đường Tố Hữu, từ Từ ấy và Gió lộng đến Ta với ta và Một tiếng đờn.
Cũng tương tự là con đường Hoàng Trung Thông từ Bài ca vỡ đất đến Mặt trăng...
Trở về với bản thể luận – nơi con người không ngừng suy tư về cõi thế và về bản thân, nơi cái không biết bỗng trở nên vô cùng bên cái biết, ai mà không có chút rợn ngợp trước bao điều huyền bí.
Và vòng quay đời người:
Non sông dù đã thay
Mặt người thì vẫn cũ
Đi hết một vòng đời
Lại gặp mình thuở nhỏ
(Trong nhà: 1998)
Nếu đúng là một đúc kết chung cho vận hành của cuộc sống, trên tất cả mọi chu trình lớn nhỏ, để bao bọc trong nhau và để tiếp nối nhau của nó, thì hẳn sẽ không phải là một kết thúc bi quan.
Tôi viết bài này như một cuộc đi tìm Trần Nhuận Minh. Có tránh sự nhiều lời để trở nên nhạt và nhàm, tôi muốn để anh tự nói về mình qua các đoạn trích. Đây là một Trần Nhuận Minh theo hình dung của tôi. Một hình dung qua nhiều tập thơ, nhiều trăm bài thơ tôi đọc trong ngót 30 năm, kể từ đầu 80, khi chúng tôi quen nhau trong hoạt động phôi thai của Tổng công đoàn, Hội Nhà văn và Viện Văn học, để nhận diện và suy tôn một đề tài lớn và mới – đề tài công nghiệp. Hình dung của tôi về Trần Nhuận Minh như trong bài này có thể không giống với nhiều người khác – nhưng ngôi vị thơ anh hoặc đã viết về anh. Cũng có thể không giống với cách anh tự hình dung về mình. Nhưng nếu thế, tôi lại rất mừng. Bởi điều đó nói rằng: Thơ anh đã có thể gợi nghĩ nhiều hơn, và có nhiều chiều cạnh hơn cho người đọc hôm nay tìm đến./.