Trần Nhuận Minh và 3 lần “định vị” thơ (Phần 3)

Ở tuổi 26, Trần Nhuận Minh tự xác lập căn cước thi sĩ bằng hình ảnh “hai lá phổi” – quê và mỏ – như hai nguồn sống nuôi dưỡng thơ mình. Từ đó, cảm hứng công nghiệp được đẩy tới cao trào trong Đá cháy, nơi Than và Lửa trở thành tuyên ngôn về sứ mệnh và niềm tin của một thế hệ.
Nhà thơ Trần Nhuận Minh. Ảnh: Báo Lao Động
Nhà thơ Trần Nhuận Minh. Ảnh: Báo Lao Động

Bài thơ Trình bày Trần Nhuận Minh viết năm 1970 đặt ở đầu tập Nhà thơ áp tải (1980) có ý nghĩa như là một tự thuật về mình trong buổi đầu vào đời và vào nghề. Tuổi 26, với bài này, Trần Nhuận Minh đã làm một cuộc định vị cho chỗ đứng của bản thân – một bên là làng quê Điền Trì bên sông Kinh Thầy, một bên là phố mỏ Hồng Gai soi vịnh Hạ Long. Trong kiến tạo nên một nhà thơ thì cả hai địa chỉ ấy có giá trị của hai lá phổi.

Dưới đây là nội dung được gõ lại từ hình ảnh và đã chỉnh sửa lỗi chính tả, chuẩn hóa dấu câu cho mạch lạc hơn:

Bạn ơi, tôi có hai lá phổi
Một là Điền Trì, mùa thu nước nổi
Một nửa là phố mỏ Hồng Gai, quanh năm rừng rực nắng trời

Giữa hai lá phổi là
Đây, trái tim tôi
Tim tôi đập theo từng nhịp thở
Khi thì héo như hoa
Lúc lại tươi như cỏ

Và sau hai lá phổi là hai cánh buồm:

Tôi áp tải những nỗi niềm cuộc sống
Ngay trong ngực mình, nào phải đâu xa
Xin dâng bạn
Hai lá buồm đỏ thắm
Đã bay lên từ nắng gió quê nhà

Từ hai địa chỉ (vùng đất) qua hai lá phổi, để đến hai lá buồm đỏ thắm – một liên tưởng trong mênh mang một niềm yêu sự sống, đi – về trên hai miền quê: Nông thôn và thành phố, nông dân và công nhân, nông nghiệp và công nghiệp, đó là sự định vị đầu tiên cho gương mặt Trần Nhuận Minh. Một sự định vị đưa đến sự xuất hiện một đội ngũ thơ của giai cấp công nhân, trong đó có anh; và anh sẽ là người đại diện để nói lên phẩm chất mới của họ, bắt nguồn từ một tình yêu mới – tình yêu Đất này – nó là bài thơ đặt ở đầu Âm điệu một vùng đất – với cái điệp khúc không thể nói là không da diết:

Đã bao đất này, không dễ mà yêu
(và... không dễ mà thương không dễ mà mê)
Vậy mà anh chẳng hiểu vì sao
Anh chẳng thể xa đất này cho được
Như con tàu chẳng thể xa sông nước
Như cánh chim chẳng thể thiếu mây trời...

Đất là đất của người, đất mang tính người, tình đời; và với nó, Trần Nhuận Minh sẽ có một sự nghiệp thơ, để không chỉ nói về “âm điệu” của nó mà là tất cả sự sống của nó; một sự sống lẫn dấu vết xuất hiện trong thơ Việt Nam – có thể nói như thế – với vẻ đẹp của lao động và một âm điệu trữ tình rất say người trong buổi đầu gặp gỡ giữa Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội. Một vẻ đẹp và một âm điệu trữ tình đã xuất hiện từ nửa đầu những năm sáu mươi trong cả một thế hệ hàng đầu – đó là Tố Hữu với Bài ca mùa xuân 1961, Xuân Diệu trong Riêng chung, Chế Lan Viên trong Ánh sáng và phù sa, Huy Cận với Trời mỗi ngày lại sáng và Bài thơ cuộc đời, Nguyễn Xuân Sanh trong Nghe bước xuân về, Tế Hanh với Tiếng sóng, Hoàng Trung Thông trong Những cánh buồm...

Sau cuộc định vị lần thứ nhất, chân dung và hành trình thơ Trần Nhuận Minh sẽ được định vị lần thứ hai trong bài Đá cháy với 8 khổ thơ, 224 câu, viết năm 1985. Đây là bài thơ dài, có dáng vóc hoành tráng đầu tiên của Trần Nhuận Minh, với mở đầu là Lửa. Để tổng kết hợp Than và Lửa mà có sự Tỏa sáng.

Người thợ mỏ dưới tầng than – hình ảnh trung tâm của “Đá cháy”. Ảnh: Báo Quảng Ninh
Người thợ mỏ dưới tầng than – hình ảnh trung tâm của “Đá cháy”. Ảnh: Báo Quảng Ninh

Lửa, Than và Tỏa sáng – đó là ba “nhân vật” quan trọng trong màn trình diễn lớn ở Đá cháy, do Trần Nhuận Minh đạo diễn, và người lĩnh xướng ở đây sẽ là Tôi, trong đối thoại và độc thoại:

Bà đâu biết có ngày:
Trái tim tôi sẽ tự hát lên
Khi gặp hồn than và người thợ mỏ.

Em đâu biết có ngày:
Những tầng đá đen và một người con gái mỏ
Đã chiếm tôi hơn cả mối tình đầu.

Tôi đâu biết bây giờ:
Tâm hồn tôi tràn đầy âm thanh
Tiếng mìn nổ tầng than và tiếng sóng biển.

Từ tiếp xúc Lửa và Than mà có sự Tỏa sáng. Và “không Tỏa sáng thì không tồn tại” – nhà thơ khẳng định thế. Một khẳng định đến từ sứ mệnh của giai cấp công nhân mà nhà thơ muốn (hoặc đã) là người đại diện, khi từ là “tầng đất sét bên bờ sông Kinh Thầy”, anh đã trở thành “tầng đá đen” (nguyên khối xứ xỉn của một vùng than mênh mông – miền vàng đen trong lòng đất Đông Bắc của Tổ quốc).

Từ Lửa, Than còn phải qua Cháy mới có sự Tỏa sáng. Vậy là có thêm sự hiện diện của Cháy. Để Tỏa sáng phải có một cuộc Cháy vĩnh cửu. Cháy đến lúc nào, chưa có ai trả lời. Nhưng giá đám cháy có tắt, thì đó là một cuộc tắt oan liệt – “bởi tro lên vẫn có đám lửa hồng”. Chẳng phải là khẩu khí! Bởi đó không chỉ là “âm điệu của một vùng đất” mà là “âm hưởng của một thời”. Sự định vị lần thứ hai này ở Trần Nhuận Minh là định vị cho quan hệ Giai cấp và Nhân dân, định vị sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Thay vì gạch đá, sắt thép, vỉa moong, tầng lò, dầu mỡ, than bụi... Trần Nhuận Minh đã làm một cuộc khái quát để loại bỏ tất cả những gì là cụ thể, trần trụi để chỉ còn Than, Lửa, Cháy và Tỏa sáng. Một trừu tượng rất cần thiết và đáng giá để đi đến sự xác nhận cái Tôi trong lần định vị thứ hai này:

Không có Than, suốt đời tôi sẽ thiếu
Một cái gì có thể tạo thành Tôi

Xác định “những câu thơ” như “Ngọn lửa tâm hồn” (để đối sánh với Than, là ngọn lửa của đất – tôi suy diễn thế), Trần Nhuận Minh khẳng định một xác tín như chân lý:

Tôi hằng tin không một thói xấu nào
Còn tồn tại khi đã qua Lửa
Không phải niềm vui mà chính là nỗi khổ
Đã dạy tôi thành Người...

“Nỗi khổ” ở đây tôi muốn hiểu là những nhọc nhằn, vất vả của lao động, chứ chưa phải là khổ đau nhân loại – là bể khổ của chúng sinh, theo cách hiểu của nhà Phật.

Với Trần Nhuận Minh – cho đến lúc này, sống là để làm thơ – trong sứ mệnh là “Ngọn lửa tâm hồn” – đốt cháy tâm hồn thành thơ. Còn nếu chết:

Tôi sẽ đầu thai làm Ngọn lửa
Cháy điên khùng trong đất tối âm u

Để thành Than. Để hóa thân thành Lửa Than.

Đá cháy tôi muốn xem là một tuyên ngôn thơ của Trần Nhuận Minh, định vị lần thứ hai – để trở thành nhà thơ của đội ngũ tiên phong là giai cấp công nhân. Khách quan mà nói, anh đã ghi nhận được gương mặt đất nước và gương mặt thơ một thời trong và sau chiến tranh còn chưa phai nhạt âm hưởng hào hùng của đất nước trong cuộc chiến chống ngoại xâm, và trong buổi đầu một sự nghiệp xây dựng chống đói nghèo còn rất giàu sự tự tin, đến thành lãng mạn.

Cái thời, anh có thể thay mặt nhiều người mà nói:

Một vùng công nghiệp Việt Nam
Chất chứa dựng nên thuở nghèo nàn đó em!

Là sản phẩm một thời, nó vẫn có sức biểu đạt một chặng hành trình đáng nhớ, ngay cả trong cái vụng về, ngây thơ và cả tin của nó.

GS. Phong Lê