Tầm vóc Phan Bội Châu trong lịch sử và lịch sử văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX (Phần 1)

Lương Đàm
Thế hệ chúng tôi, ở tuổi học trò, là con em xứ Nghệ, tuy có được nghe, được kể về ở, được biết đến Phan với niềm tự hào và lòng thành kính. Và biết qua sách vở, giáo trình của các bậc thầy, trong đó hai người có vai trò quan trọng nhất đối với tôi, đó là Đặng Thai Mai và Hoài Thanh - một người từ cổ điển xuôi về hiện đại; một người từ hiện đại ngược trở về cổ điển.
phan-boi-chau2-5370-1720457823.jpeg
Phan Bội Châu (1867 – 1940). Ảnh: Internet

Tôi học và đọc Đặng Thai Mai trước khi ông về Viện, trong các bài giảng ở Đại học và trong Văn thơ Phan Bội Châu (1958). Và đọc Hoài Thanh, sau khi ông rời Viện, trong Phan Bội Châu (cuộc đời và thơ văn) (1978). Vậy là trong khoảng cách 20 năm. Qua Đặng Thai Mai tôi được biết một thời đất nước sôi sục: “Chỉ vì đọc Phan Bội Châu mà hàng nghìn thanh niên đã cắt cụt bím tóc, vất hết sách vở văn chương nghề cử tử cùng cái mộng công danh nhục nhã gắn trên đó, lìa bỏ làng mạc, nhà cửa, vợ con, rồi băng ngàn lội suối, bất chấp mọi nỗi đói thiếu, nguy hiểm, khổ sở để qua Xiêm, qua Tàu, qua Nhật mà học hỏi và trù tính việc đánh Tây. Đó là một thành công vĩ đại”.

Với Hoài Thanh, tôi biết tác động của Phan Bội Châu đối với một thế hệ thanh niên trí thức như ông là thế nào: “Từ tuổi lên chín, lên mười tôi đã thuộc nhiều câu thơ của Phan Bội Châu (...) Có thể nói thơ Phan Bội Châu đã góp sức đưa đến phong trào yêu nước rộng lớn, nhất là của học sinh, sinh viên trong dịp hai cụ Phan về nước (1925)(...) Riêng đối với tôi, tấm gương Phan Bội Châu đã giúp tôi rất nhiều. Giúp tôi những khi tôi vươn mình lên làm nhiệm vụ và những khi tinh thần tôi sa sút thì lại giúp tôi giữ lấy mình để không sa sút nhiều hơn nữa..”.

Tôi hiểu không phải chỉ là người đồng hương xứ Nghệ mà cả hai, Đặng Thai Mai và Hoài Thanh đều dành nhiều công sức, tâm huyết cho Phan Bội Châu; đều viết về Phan như là để trả một món nợ lớn nhất trong đời nghề nghiệp của mình. Với cả hai, một người là học giả uyên thâm, một người là nhà phê bình tinh tế, Phan Bội Châu là một tác gia lớn, một nhân cách lớn, có một sự nghiệp lớn trong một bước ngoặt của lịch sử, và làm nên lịch sử một bước ngoặt trong văn chương dân tộc. Là “một trong những con người Việt Nam đẹp nhất” theo Hoài Thanh. Theo tôi nhớ, trong thế kỷ XX, chỉ có một người nhận được sự tôn vinh là “con người Việt Nam đẹp nhất” - để sánh với bông sen Tháp Mười - đó là Hồ Chí Minh.

Với Phan Bội Châu, trước hết và trọn vẹn đó là một nhà Nho yêu nước lớn nhất của Việt Nam xứ Nghệ trong hai thập niên đầu thế kỷ XX. Nhà yêu nước với đường đời và sự nghiệp nằm trọn vẹn trong bối cảnh nước mất, từ lúc sinh ra (1867) đất nước đã chìm trong khói súng của chủ nghĩa thực dân; và khi qua đời (1940), đất nước vẫn còn năm năm trong tối tăm nô lệ.

Hằng số bất biến trong lịch sử tinh thần của người Việt Nam là lòng yêu nước. Một lòng yêu nước như là thứ của cải quý giá nhất không hư hao, không suy suyển trong nhiều nghìn năm, kể từ thời dựng nước, được lưu giữ qua các chứng tích lịch sử, và qua một lịch sử thơ văn từ truyền thuyết (Thánh Gióng), qua ca dao (Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng) rồi đến với văn học viết - kể từ bài thơ bốn câu Nam quốc sơn hà... trong cuộc chiến chống Tống lần thứ hai (1075-1077) đến Tuyên ngôn độc lập (1945) khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Sự thực lịch sử đó mong đừng ai quên, nhất là trong bối cảnh hòa bình - hội nhập như hôm nay, bởi nếu không có một lòng yêu nước bền vững hơn mức bình thường thì sao mà lấy lại được nước sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc; và sao mà giữ được nước trong một nghìn năm tự chủ - với hiểm họa mất nước luôn luôn rình rập, đến từ những Đại đế Trung Hoa: Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh...

3-pbc-ben-phai-ho-tung-mau-o-giua-va-ngo-thanh-ben-trai-172953-061019-82-1720458074.png
Phan Bội Châu (phải) với Hồ Tùng Mậu (giữa) và Ngô Thành (trái). Ảnh: Trung tâm lưu trữ Quốc gia

Từ giữa thế kỷ XIX, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại của sự thống trị của phương Tây đối với phương Đông; của các dân tộc tư sản đối với dân tộc nông dân; của văn minh đối với lạc hậu... lại một lần nữa dân tộc phải đứng trước một hiểm họa càng lớn hơn. Suốt nửa sau thế kỷ XIX với liên tục những cuộc chiến chống Tây dương, hào khí và hy sinh của dân tộc là có thừa, nhưng đều thất bại. Bởi đây là sự thất bại trước một kẻ thù mới, hoàn toàn khác trước; một thất bại gần như là hiển nhiên, khó tránh, trong đối sánh giữa hai phương thức sản xuất, hai trình độ văn minh - một bên là chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, và một bên là giai tầng phong kiến còn trong tình trạng manh mún, tù đọng và hủ lậu kéo quá dài trong lịch sử.

Lòng yêu nước của dân tộc, trong tình cảnh trên, lẽ tự nhiên phải có thêm những phẩm chất mới; nói cách khác, phải là một chủ nghĩa yêu nước mới - cứng cỏi và nồng nàn hơn, tinh táo và thống thiết hơn, bởi sự thực mất nước là quá rõ ràng, và bởi con đường cứu nước là không thể trở về với những bài học cũ, những kinh nghiệm cũ - như cha ông, trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Phải tìm một con đường khác, với sự hợp lực của nhiều thế hệ, mà những người mở đường mới phải xuất hiện không thể sớm hơn, và càng không thể muộn hơn ngay trong thập niên mở đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đang trong tâm thể đắc ý với sự thiết lập xong nền thống trị của chúng trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Trong đội ngũ những người mở đường - có một người xung trận với nhiệt huyết nồng nàn nhất, và với vũ khí văn chương và văn chương vũ khí - đó là Phan Bội Châu trong tư cách một người Việt Nam yêu nước xứ Nghệ.

Với Phan, cũng như các chí sĩ khác thuộc thế hệ ông, nước không bao giờ là một khái niệm trừu tượng. Đó không chỉ là một lọ vắng - “ông cha ta để cho ta lọ vàng”, mà con cháu phải ra sức gìn giữ. Đó còn là một cơ thể sống - gồm cả phần hồn và phần xác; và nếu phần xác đang bị đọa đầy cho xơ xác, tàn tạ, thậm chí tiêu hủy thì phần hồn vẫn còn đó; và trách nhiệm của những ai có lòng yêu nước là phải gọi cho được hồn về.

Xin hồn hãy tỉnh đừng mê!

...

Hồn cố quốc vẩn vơ, vơ vẩn

Khôn tìm đường dò nhắn hỏi han

Bâng khuâng đỉnh núi non ngàn

Khói tuôn khí uất sóng cuồn trận đau.

Hồn nước - đó quả là một cách hình dung mới để biểu đạt tình yêu nước của thế hệ Phan Bội Châu. Và dường như cách biểu đạt này là chưa hề xuất hiện trong lịch sử chống chọi với phong kiến phương Bắc nhiều nghìn năm.

Vậy là sự xuất hiện một kẻ thù mới đã buộc dân tộc phải tìm đến một chủ nghĩa yêu nước mới, cụ thể hơn, thống thiết hơn, dục dã hơn; và Phan là người sớm tiếp cận để đem lại cho nó một cách biểu hiện mới, vừa bằng một lý trí tỉnh táo, vừa với một cảm xúc nồng nàn.

GS. Phong Lê