Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 4 và hết)

Sự phong phú về giọng điệu - cũng là một dấu hiệu cần cho tiểu thuyết. Vì đời sống vốn giàu âm điệu. Tất cả những Tiệp, Thất, Ái, Vượng; những chánh Hạp, già San, cha Khâm, cha Hoan, cha Độ; những Nhân, Ái, xơ Khuyên; những cụ Trùm Nhâm, bà Hai Khoản; những Ngật, Búp, Mẩy, mụ Hào, lái Táp; và cả những bọ Sức, Ba Bơ... cho ta cảm nhận sự đa thanh của Bão biển. Thế giới nhân vật ấy có chính có phụ, được tô đậm hoặc thoáng qua, đi đến cùng cuốn truyện hoặc bỏ cuộc giữa chừng.
cho-que-08-1763750629.jpg
Không gian chợ quê – nơi cái bi và cái hài, cái xù xì và trơn láng hòa quyện, tạo màu đời đặc trưng của vùng Sa Ngoại. Ảnh: VOV

Nhưng dường như tất cả mọi phần việc của mình, tất cả đều được đặt đúng chỗ, không thể vắng thiếu một ai. Thiếu một ai trong đó, ngay cả một nhân vật phụ như bọ Sức, Ba Bơ, như mụ Hào lẳng lơ, bán thịt chó hoặc mụ vợ Mẩy nhẫn nhục, khỏe chịu đòn chồng... là thiếu đi một sắc màu, một giọng điệu cần thiết cho bức tranh đời chân thật và sinh động. Thiếu họ, cuốn sách sẽ mất đi sự hài hòa, sự đan cài giữa cái bi và cái hài, cái xù xì và trơn láng, cái mực thước và cái so lệch, cái cao cả và cái thấp hèn, cái nghiêm chỉnh và cái trào lộng... vốn là những mặt khác nhau, đối lập nhau, nhưng không thể thiếu được nhau làm nên dấu ấn riêng của một vùng đất, và từ dấu ấn riêng đó mà cho ta cảm nhận cái rộng lớn, cái sống động, cái lung linh của gương mặt cuộc đời.

Cuộc sống một vùng nông thôn công giáo ấy, bạn đọc đã có dịp làm quen, qua Xung đột của Nguyễn Khải. Những “xung đột” giằng xé giữa ánh sáng và bóng tối, giữa phần đạo và phần đời, hiện lên thành mảng khối ở đây đã sớm vào văn xuôi Nguyễn Khải như là chứng tích cho một sự vươn lên đầy vất vả. Như một cuộc tiếp sức, từ thôn Hỗ trong Xung đột của Nguyễn Khải, cuộc hành trình tiếp tục đưa ta xuôi về Sa Ngoại trong Bão biển của Chu Văn. Sa Ngoại có đôi bạn giống nhau và khác nhau - Tiệp và Thất; có đôi chị em thương nhau và làm khổ nhau - Nhân và Ái; có đôi bạn trải bao trắc trở mới thành vợ chồng - Vượng và Ái; có niềm khát khao hạnh phúc bị dồn nén đang mong sự giải tỏa, và có tâm địa của bọn quỷ dữ muốn ngang dọc tung hoành, nhưng rồi bị bóp thắt lại; có cái ồn ào của một lễ đầu dòng và tiếng súng nổ đơn độc giữa đêm khuya... Cả một bức tranh, với bao nhiêu chuyện đời sôi sục chuyển động đã vào văn - cùng dấu ấn riêng của một vùng đất. Một chuyển động vất vả nhằm hướng về ánh sáng. Một sự vất vả đến vật vã, vì ở đây có một vành đai của biển. Và có biển là có vị mặn của muối, có thêm một nghề để thử thách sự quả cảm và gân bắp con người. Có biển là có thêm một cánh cửa ngõ, đón gió từ nhiều phương trời, cũng là thêm một sự trống trải, cho sự tung hoành của những cơn bão... Vùng đất ấy, từ trên năm thế kỷ đã phải chịu dần dần sự thâm nhập của những dị vật, một hệ tôn giáo mới đến từ phương Tây, cùng với thuốc súng và chiến thuyền. Và có dị vật là có phản ứng của cơ thể, có những cơn sốt. Cách mạng và hai cuộc kháng chiến đã rọi một ánh sáng cực mạnh, xua tan bóng đêm nhiều thế kỷ. Nhưng chưa dễ chấm hết những cơn sốt, khi dị vật còn chưa tan.

le-dau-dong-bc-1763750786.jpg
Lễ đầu dòng – một trong những cảnh được Chu Văn khắc họa sống động, nơi mọi mảng tối–sáng của đời sống cùng hiện lên. Ảnh: Internet

Sau Bão biển, Chu Văn viết tiếp Đất mặn (1975) như một sự theo dõi tiếp cuộc sống nông thôn vùng Thiên Chúa giáo ở giai đoạn chống Mỹ. Cuốn tiểu thuyết hai tập này có thiếu đi cái gay go, giằng néo chằng chịt của các mối xung đột, cùng là sự sống động của những gương mặt người. Nhưng để bù lại, là những cố gắng có mặt hiệu quả của Chu Văn nhằm vào xây dựng chân dung một lớp tuổi trẻ trong sự tiếp nối của các thế hệ, trước những vấn đề mới đặt ra khi đất nước lại bước vào chiến tranh. Một cuộc chiến tranh không chỉ đòi hỏi chủ nghĩa anh hùng và những hy sinh không tính toán, mà còn đòi hỏi ở mỗi người sự nâng cao phẩm chất và năng lực, tình cảm và trí tuệ - vì cách mạng đã chuyển sang một giai đoạn mới, với hai nhiệm vụ chiến lược cùng song song và xen cài: Chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hai tiểu thuyết có cùng bề dày, và cách nhau một nửa thập niên. Có lẽ cần phải nhắc đến một dấu nối ở giữa, đó là Hương cau - Hoa lim, tập truyện tỏa một hương vị riêng, quen thuộc và mới mẻ, nối hiện thực ở hai miền đất nước, nối tình cảm gắn bó Bắc - Nam. Hương cau: Man mác mà đằm thắm tình người, tình hậu phương. Hoa lim: Gân guốc, vạm vỡ những mảng chuyện sinh hoạt và chiến đấu của người lính ở chiến trường và đồng bào các dân tộc thiểu số ở Trường Sơn. Hai mảng truyện tách ra, một thoáng tượng trưng, một dấu luyến láy trên khung nhạc, nhưng trong bề sâu vẫn liền mạch một dòng chảy những cảnh đời và tình người vốn đầy ắp những biến động và đổi thay, những gian lao và thử thách.

Tiếp theo Đất mặn, là Sao đổi ngôi (1984) cũng tiểu thuyết hai tập, viết xong 1980, và ra mắt 1985. Qua Sao đổi ngôi người đọc thấy hướng quan sát của Chu Văn đã chuyển sang những vấn đề mới của sự nghiệp xây dựng, của chiến tranh và hòa bình trong tình thế xen cài hoặc trong sự chuyển đổi vị trí cho nhau. Tình thế cách mạng thay đổi đòi hỏi con người sự điều chỉnh các mối quan hệ, sự chủ động đón bắt các yêu cầu mới, sự vươn lên của phẩm chất và tài năng, sự thanh toán những sức ỳ vật cản luôn luôn thay hình đổi dạng. Nếu những Vương, Ái trước đây trong Bão biển đang còn chịu sự giành giật giữa địch và ta, và bản thân họ còn phải vất vả vượt ra khỏi bóng tối, thì thế hệ mới, với những Sơn, Xoan, Hoài, Mùi, Liễu, Mận trong Sao đổi ngôi không còn chịu sức ép nặng nề của thần quyền. Nhưng không phải nhờ vậy mà con đường đi lên của họ là thẳng băng và khỏe nhẹ. Đặt con người trước những thử thách lớn lao của chiến tranh, đồng thời biết soi sâu vào những mặt còn mờ khuất hoặc u ám của cuộc sống, để chỉ ra những chướng ngại, Chu Văn nói với ta, cuộc sống ngay trong từng bước đi lên của nó, đang còn rất lắm vấn đề phải giải quyết, hoặc nếu chưa thể, chưa kịp giải quyết thì cũng cần gióng một hồi chuông báo động... Không né tránh những thói tệ ở chính ngay trong hàng ngũ cách mạng, không ngần ngại gợi ra những bất công và oan ức, những chuyện đáng buồn hoặc xấu hổ còn có đất sống trong chính cuộc đời hôm nay - đó là ý định dũng cảm và đáng quý ở Chu Văn, được thể hiện ít nhiều trên bộ tiểu thuyết mới này. Cố nhiên thời điểm 1975 ngăn cách hai giai đoạn cách mạng, khiến cho hai tiểu thuyết có những điểm khác biệt trong nội dung, trong âm điệu, trong phương thức diễn đạt. Từ đỉnh cao Bão biển, Chu Văn không dễ vượt mình trong Đất mặn. Để tránh cái khó ấy, ông đã tìm một cách tiếp cận hiện thực khác, hẳn còn xa mới có được sức áp sát, đào sâu và ôm trùm của Bão biển, nhưng cốt sao không bị trùm trong bóng rợp của những thành công đã có. Vượt lên Đất mặn, Sao đổi ngôi cho ta cảm nhận lại ít nhiều mùi vị và giọng điệu Bão biển: Trong dồn dập đến chồng chất các chuyện đời, trong éo le của các số phận, trong cam chịu hoặc vượt lên sức đè của ngoại cảnh, trong mấp mé không dễ đánh giá giữa cái thiện và cái ác, cái đúng và cái sai... Vẫn một Chu Văn giàu chất sống và giàu bản lĩnh, không né tránh những mặt tối, những chuyện không vui. Và cũng vẫn một Chu Văn có cách nhìn sáng, không bị vướng hoặc rối trong các tình huống bi đát hoặc phức tạp.

Nhưng nếu có điều đáng tiếc, so với Bão biển, ở hai tiểu thuyết mới này - đó là sự thiếu đi bút pháp tiểu thuyết, có yếu đi bản lĩnh dựng truyện - cái bản lĩnh cho phép người viết đứng lùi ra, để cho cuộc sống tự nó lên tiếng nói của nó. Có bút pháp và bản lĩnh đó trong Bão biển, Chu Văn đã tạo được một thế giới nghệ thuật riêng, không lẫn; một thế giới với những hình khối và đường nét không những in sâu mà còn có sức nhân lên, sức sinh sôi trong tâm tưởng người đọc. Từ bút pháp dựng chuyển sang bút pháp kể - dẫu là tác giả kể hoặc nhân vật kể - thế giới truyện có phần không tránh khỏi nghèo đi ít nhiều sự đa sắc, tính đa thanh vốn có của cuộc đời.

Sau Đất mặn và Sao đổi ngôi, tác giả Bão biển lại tiếp tục cho ra đời tiểu thuyết Giáp mặt, như là sự theo đuổi, sự kiên trì bám sát hành trình của một vùng đất... nghịch, một vùng đất luôn gây sự, luôn có sự lạ cho người viết phải quan tâm.

Ngoài công việc sáng tác, Chu Văn còn tham gia chủ trì và chủ biên nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu danh nhân lịch sử và danh nhân văn học, từ cổ điển đến hiện đại. Những hoạt động đó cùng với vốn kiến thức phong phú đã khơi ở ông một nguồn mạch sáng tạo mới trong loại truyện ngắn lịch sử, để góp vào yêu cầu giáo dục truyền thống cho các thế hệ bạn đọc hôm nay./.

GS. Phong Lê