Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 1)

Nói Chu Văn là nói một lớp người viết đến với nghề từ trách nhiệm công dân. Cũng có thể nói đó là lớp nhà văn sản phẩm của Cách mạng tháng Tám. Trong quan niệm buổi đầu ở họ, văn nghệ trước hết phải là một vũ khí tuyên truyền. Văn nghệ phải đến với quần chúng, số đông vừa từ bóng tối của cuộc đời cũ bước ra đang khao khát ánh sáng của văn hóa để biến cải cuộc đời mình. Nhiệm vụ cách mạng phát triển, quần chúng trưởng thành; anh cán bộ chính trị học viết, xem văn nghệ như một công cụ tuyên truyền trở thành nhà văn; và sự song hành phát triển đó đã đưa Chu Văn vào đội ngũ người viết chủ lực của nền văn nghệ mới sau 1945. Hơn thế, còn đưa Chu Văn lên tầm một cây bút tiểu thuyết có thành tựu, có nghề, giành được vị trí cao trong nền văn xuôi hiện đại.
nha-van-chu-van-1763749783.jpg
Nhà văn Chu Văn. Ảnh: Bảo tàng Văn học Việt Nam

Nói tóm tắt như vậy, nhưng cũng cần trở lại một ít “lịch sử” về con đường vào nghề của Chu Văn, để thấy mỗi thành công thu được trên bất cứ lĩnh vực nào của sự sáng tạo nghệ thuật cũng đều không ngẫu nhiên, mà phải là kết quả của sự nỗ lực, tận tâm cùng với tài năng, trải qua nhiều thăng trầm, bước này tạo đà cho bước khác.

Nghề văn không đến sớm với Chu Văn. Dẫu niềm yêu thích thơ ở ông có từ tuổi học sinh, và sự hăng hái hoạt động trên lĩnh vực này được khai mở từ tháng Tám - 1945, nhưng chiến công ghi lại được, đến hôm nay, khi ông có dịp “hồi ký” là tên mấy vở kịch phục vụ kịp thời phong trào cách mạng và kháng chiến ở quê ông - Thái Bình.

Thế nhưng từ hôm nay nhìn lại thì cái khoảng thời gian chống Pháp chín năm ấy lại là một thời gian rất cơ bản, có ý nghĩa chuẩn bị và định hướng rất quan trọng cho nhà văn, nhà tiểu thuyết Chu Văn sau này. Từ cậu học trò thôn Mưỡu hẻo lánh, đến anh thanh niên xã Trực Nội ham thích làm thơ, diễn kịch, rồi anh cán bộ địch hậu, thông tin tuyên truyền huyện, tỉnh, rồi người cán bộ phụ trách văn hóa văn nghệ của Ban tuyên huấn Liên khu Ba, địa bàn hoạt động của Chu Văn dần dần mở rộng. Một cuộc chiến tranh nhân dân diễn ra trên địa bàn đồng bằng sông Hồng, có phần đất tự do rất hẹp. Một vùng nông thôn rộng lớn, bị địch chiếm, trong đó phần đông là vùng Thiên Chúa giáo, dài cả một vùng ven biển. Một cuộc vật lộn gay go, dữ dội để giành chiến thắng về quân sự; nhưng để có được chiến thắng về quân sự, giải phóng được đất đai, rồi đưa người nông dân vào công cuộc xây dựng xã hội mới, lại phải giành cho được chiến thắng trên lĩnh vực ý thức, đẩy lùi bóng đêm mê tín, thần quyền... Đó là địa bàn hoạt động chiến đấu của Chu Văn suốt mấy chục năm ở tư cách người cán bộ tuyên truyền, trong đó có những năm cực kỳ khốc liệt - như những ngày “chia đất ấp” Xuân Thủy ông bị càn hút chết; những ngày “hai năm bốn tháng” cả một xứ Bùi Chu trở thành “vùng công giáo tự trị”. Mấy chục năm, kiên trì thâm canh trên một địa bàn, trong đó có hơn mười năm, Chu Văn chỉ chăm chỉ ghi chép theo kiểu những “sổ tay công tác” của một cán bộ quần chúng.

Những vốn liếng và kỷ niệm thu được của một thời thanh niên sôi nổi, và có sức lăn lộn, chịu đựng này rồi sẽ vào một loạt truyện ngắn của Chu Văn, khi ông được chuyển về công tác văn nghệ, vẫn trên địa bàn quê hương Khu Ba của mình. Đây là vào giữa những năm năm mươi. Thời điểm này, với sự ra mắt khá tập trung một số truyện, trong tập truyện có tên Cô lái đò Sông Ninh - nhờ vào trại viết Khương Thượng của Hội Nhà văn đã đặt Chu Văn vào một thế hệ người viết chuyển nối. Đến với nghề hơi muộn so với tuổi đời, nhưng do hành trang được chuẩn bị tốt, nên sự góp mặt của ông vào đội ngũ nhanh chóng gây được ấn tượng. Không phải ở kỹ thuật, nghệ thuật viết truyện có gì mới lạ, mà ở chất liệu sống phong phú, Chu Văn kể cho ta nghe về cuộc chiến đấu khốc liệt, những hy sinh thầm lặng, và chủ nghĩa anh hùng tuyệt vời mà bình dị của những người dân bình thường vùng quê ông.

111219kpvietnam4609-1763749886.webp
Không gian đồng bằng sông Hồng – nơi Chu Văn gắn bó hoạt động, ghi chép và quan sát cuộc sống nông thôn trong chiến tranh. Ảnh: internet

Kho sống ấy ở Chu Văn xem ra còn dư đầy, nhưng hình như sau một tập truyện gợi rất nhiều hứa hẹn, ông lại không ham mê theo đuổi, như một số người. Xen kẽ và tiếp tục khai mở lại là những truyện về chính cuộc sống mới đang diễn ra; và dường như ở cái vốn chất liệu còn chưa định hình và rất lắm thử thách này mới là đối tượng người viết tha thiết nắm bắt, và cũng lắm băn khoăn. Nếu ở các truyện trong Cô lái đò sông Ninh, tất cả đều rõ ràng và nhất quán một âm điệu ca ngợi, có phần không dễ dãi, ở những tình huống đau thương và bi kịch mà con người bị dồn đến thế cùng thì với Ngang trái và tiếp đó, Con đường lấy lại là những mảng sống đang mở ra với bao u uẩn hoặc vướng mắc, bao câu hỏi và lời giải. Ngang trái, như tên gọi của nó, kể câu chuyện một cặp vợ chồng, do chiến tranh và cách bức mà bị đẩy vào một tình thế bế tắc - một tình yêu bộ ba, trong đó, theo tác giả, cả ba dường như không có lỗi (!).

Thực ra, cuộc sống, dù tình cảnh nào rồi cũng có cách giải quyết, rồi cũng đi đến kết thúc xấu hoặc tốt, và việc rút ra bài học từ các hậu quả, là việc ai cũng có thể làm, và nhất là nhà văn. Nhưng người viết ở đây đã bỏ lửng câu chuyện trong một ý buông trôi: “Họ không hết thương nhau, và cũng không bao giờ hết đau khổ vì nhau”. Thiên truyện do vậy có phần u ám. Thế nhưng trong Con đường lấy lại tiếp đó, thì cái tình huống bi kịch đặt ra cho cả một lớp người lại được giải toả. Đặt hai truyện ngắn trên vào thời điểm trước 1960, khi biết bao kỷ niệm, ấn tượng về cuộc kháng chiến vừa qua, chỉ mới trong khoảng lùi vài năm còn đang dồn chứa, để thấy cái phần nhạy bén và đóng góp đáng quý ở Chu Văn là sự phấn đấu nắm bắt các vấn đề thời sự. Ở người viết có vốn sống và bản lĩnh chính trị già dặn này, việc bám vào thời sự, vào những gì đang diễn ra mới là điều cần thiết và đáng giá. Trên hướng viết này, Chu Văn tiếp tục cho ra mắt tập truyện Ánh sáng bên hàng xóm ghi lại chân dung những người nông dân trong buổi đầu phong trào hợp tác hóa, với những mảng sáng - tối, và cái xu thế vươn về phía sáng và lấn dần bóng tối ở con người họ.

GS. Phong Lê