
Làm thơ và được in từ 1963, định hình và trưởng thành trong phong trào thơ trẻ, và thơ về đề tài công nghiệp qua hai tập thơ chung: Sức mới (tập 2 – 1967) và Ca bình minh (1972). Gắn bó với đất và người vùng mỏ từ những năm 70 để sớm có ba tập thơ in riêng: Đáy lò tình yêu (1971), Âm điệu một vùng đất (1980) và Thành phố bên kia cầu (1982)... Từ làng quê Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, Hải Dương đến sông Kinh Thầy, Trần Nhuận Minh đã là người của đất mỏ, để có thể rất sớm lắng nghe và hát lên “âm điệu” của nó. Từ nông thôn ra thành phố, từ nông dân trở thành công nhân... để làm nên cuộc định vị lần thứ nhất cho thơ Trần Nhuận Minh. Bước chuyển đó thật sự là quan trọng biến đổi của đất nước mà Trần Nhuận Minh cùng những người thuộc thế hệ của anh như Thanh Tùng, Đào Cảng, Thi Hoàng, Yên Đức, Tô Ngọc Hiến, Lý Biên Cương... đã có vinh dự và trách nhiệm là đại diện cho tương lai và khát vọng của dân tộc một thời.
Cũng như nhiều người, anh đã đến với vùng đất này với ngổn ngang và ngổn ngang những: Con tàu đi trong ô vuông than, Gặp cô thợ mài là người quen cũ, Trên tầng cao 380, Biết nói với em thế nào về vùng than, Đám cưới có đầy đủ dâu nàng anh chàng lái xe bốc lót, Hòn than, Cô thợ hàn trên khung nhà cao tầng, Trong lò đá, Nói với em về bụi, Sau ngày lao động, 4.000.000...
Sau ba tập thơ chung đó, Trần Nhuận Minh đã là người của quê mới, của vùng than, của giai cấp công nhân. Trần Nhuận Minh có tiếp tập thơ thứ tư: Nhà thơ áp tải (1989) gồm 35 bài, lấy tên bài anh viết tặng bạn thơ Thanh Tùng (bài số 22), làm tên chung cho cả tập, với một tuyên ngôn ở khổ cuối – có thể xem là sự khái quát cho một khuynh hướng thơ mà anh là đại diện:
Hãy áp tải sự thật
Đến những bến cuối cùng
Chèn tựa ngang dốc ngược
Đừng bẻ trời
Uống chung...
Tên chung là Nhà thơ áp tải, nhưng bài mở đầu có tên Trình bày lại là một bài tự thuật nói về mình. Và bài thứ hai là Mẹ, anh viết tặng Trần Đăng Khoa – tác giả của Mẹ ốm, Khi mẹ vắng nhà, viết ở tuổi lên 10, nổi tiếng cho đến bây giờ. Đến bài thứ ba, có tên Hoa Cỏ (1985-1988) gồm 9 khổ thơ 2 câu... Đây là sự xuất hiện đầu tiên của Hoa Cỏ, bắt ngõ mở rộng biên độ thơ Trần Nhuận Minh sang một thế giới khác, với hoa và cỏ, và với nhiều xao xuyến khác trong cảnh đời và tình người.
Đó là tình yêu, trong một ví von có đáp ứng với lửa cháy, than tro:
Em đi qua đời anh như một tia lửa cháy
Nỗi buồn anh là chàng được thành tro.
Một hình ảnh về Mẹ, trong khi quên quê hương:
Miếng ngon không đủ người nhà
Mẹ cầm đũa đưa vào ra bốn chốn...
Một tiếc nuối về tình yêu trong hương vị ca dao quen thuộc:
Bây giờ Em có chồng rồi
Sao Em vẫn mặc áo hồi anh may?
Một xót xa về thời cuộc:
Đất nước 4000 năm, lấy gạo làm nguyên soái
Đại tá về hưu đi bơm xe.
Thanh niên uống rượu say trong quán
Ông già tập thể dục ngoài đường
Một khung cảnh vô tư:
Hải âu lại lượn vào đất núi
Thuyền nằm trên bãi nhớ trời xa
Hoặc có ẩn ý:
Con chó cậy có chủ, sủa ầm ỹ trong làng
Còn vầng trăng thì im lặng sáng.
Chẳng biết gió nói gì với mình
Cây vẫn cúi đầu và gật
Một đúc kết:
Khi trời đất bỗng nhiên yên ắng lạ
Neo nhà đi! Bão lớn sắp đến rồi
Chùm thơ mang tên Hoa Cỏ này rồi sẽ có tên mới là Ngẫu hứng trong các tuyển chọn để tái bản sau này, với sự thay đổi một vài khổ thơ.
Mong bạn đọc và Trần Nhuận Minh hiểu cho: Tôi đang đi tìm hoa và cỏ trong một chùm thơ gồm 9 khổ 2 câu, có tên Hoa Cỏ. Từ bài thơ có tên Hoa Cỏ trong tập thơ này, phải 3 năm sau mới có tiếp tập thơ thứ năm mang chính tên Hoa Cỏ (1992). Rồi từ Hoa Cỏ mà có tiếp tập thơ thứ sáu: Nhà thơ và Hoa Cỏ, in lần thứ nhất 5-1993, tái bản 12-1993, gồm 51 bài. Để từ 1993 trở đi, cho đến nay, Nhà thơ và Hoa Cỏ liên tục được tái bản nhiều lần, với bổ sung liên tục: Vào 1995, ở lần tái bản thứ 5 có 63 bài. Vào 2002, ở lần tái bản thứ 9 có 81 bài; và bây giờ là lần thứ 11, in 2004, tôi đang có trong tay, lên đến 105 bài. Sự định hình một cái tên chung Nhà thơ và Hoa Cỏ trong ngót 15 năm nổi lên sự ổn định trong chọn lựa của tác giả, để định hình một gương mặt thơ Trần Nhuận Minh trên hành trình thơ hơn 30 năm.
Đọc Nhà thơ và Hoa Cỏ của Trần Nhuận Minh 15 năm nay, tôi lại nhớ W. Whitman (1819–1892) nhà thơ lớn của Mỹ với tập thơ Lá cỏ, từ lần in đầu năm 1855 chỉ có 12 bài, đến lần tái bản thứ 10, sau hơn 35 năm, lên đến 411 bài. Vấn đề là có chỗ của ông.
Không hiểu Trần Nhuận Minh có “học tập” hoặc chịu ảnh hưởng gì ở Whitman không?
Ngót mười lăm năm cho sự định hình một tên thơ, cho thấy Trần Nhuận Minh đã tự làm một cuộc chọn lựa quyết liệt cho thơ mình, ở thời điểm sau 90, trên sự kết hợp hai phía, vừa loại bỏ, vừa tự làm mới mình, để đến với hai khát vọng – vừa là sự áp tải sự thật đến ga cuối cùng (tất nhiên là ga của thơ, chứ không phải ga của văn xuôi và kịch), vừa là sự tìm đến thế giới hoa và cỏ, vừa thực vừa hư, xuất hiện khá sớm, và đến hiệp thông trong suốt hành trình thơ của anh.
Sự loại bỏ quyết liệt để chỉ lấy 28 bài cho 25 năm làm thơ khi soạn Trần Nhuận Minh – Tuyển tập tác phẩm thơ (2005); và chỉ đưa 28 bài này vào Phụ lục cho cuốn Tuyển, với lời tác giả: Nếu có sử dụng thơ đã in trước 1986 thì chỉ in được 28 bài này (P.L nhấn mạnh), có lẽ các đoạn không, bởi mỗi bài, mỗi quãng ra đời đều được đọc, vừa trong tầm trang và cảm xúc của hôm nay, lại vừa trong tương ứng với cái thời ra đời của nó.
Dẫu sao thì đó là việc anh đã làm, với một tâm thế dứt khoát, và một ý nguyện đáng quý.
Trở lại với sự chọn lựa của Trần Nhuận Minh vào những năm 90 để có 105 bài, với một tên chung ổn định: Nhà thơ và Hoa Cỏ, tôi muốn nghĩ là cái phần áp tải sự thật anh đã thực hiện xong vào một thời con người cần tìm đến sự thật. Như ở phần trên tôi đã nói, bất kể anh là ai, kể cả nhà thơ; vào cái thời cả dân tộc như được sống lại trong phương châm của Đại hội VI lịch sử: “Nhìn thẳng vào sự thật... và lắng nghe sự thật”. Vậy là từ cách chọn gần, Trần Nhuận Minh đã chọn được một chỗ đứng thích hợp để đón và chuyển tải hiện thực cho đến bến cuối cùng. Nhưng là nhà thơ, rốt cuộc thì anh cũng phải dừng ở vỉa thứ, và có phải đó là lý do để anh chỉ giữ lại hai chữ Nhà thơ và cho đứng bên hai chữ Hoa Cỏ, để làm nên một khuôn hình ổn định cho thơ mình. Cho đến lúc này, Nhà thơ tiếp tục sẽ là một chân dung tự họa, và Hoa Cỏ trở thành vừa là một đường viền, một ảo ảnh dịu mát, lại vừa là biểu tượng của một số phận gắn thân vào nhân dân và tự do, vào cái thiện và cái tốt, vốn là bản chất, là thuộc tính của Nhân dân (viết hoa), của Thảo dân, với ý nghĩa chân xác và tuyệt đẹp nhất của từ này.
Nói Hoa Cỏ, trước hết gợi nhớ sự sống xanh mát của thiên nhiên. Sự thật thì với Trần Nhuận Minh khó nói anh là nhà thơ về thiên nhiên. Thiên nhiên ít có đường nét cụ thể trong thơ anh. Nếu có thì chỉ là màu xanh của nước biển và bầu trời (hai màu chính của không gian Hạ Long). Nhưng rồi từ đầu những năm chín mươi, khi Trần Nhuận Minh có dịp đặt chân đến nhiều miền xa của đất nước, và sang Liên Xô (cũ), Trung Quốc, thì sắc màu của thiên nhiên mới dần dần xuất hiện làm nên một phối cảnh cho sự thể hiện, sự trao gửi những chuyển đổi trong hồn thơ anh, và trong chất lượng thơ anh.
Năm 1990, sang thăm Liên Xô (cũ), Trần Nhuận Minh viết bài thơ Trong đống cỏ hoa vàng (1990). Cỏ thì xanh, hoa cỏ thì vàng, cả hai đặt trên nền tuyết trắng. Cảm xúc về thế sự vẫn nặng lòng trong anh:
Hoa vàng rơi hết mình đi
Nghe đâu tuyết trắng bay về rồi đây
Trời ơi! Vắng đến thế này
Mà sao đen đặc vẫn đầy thế gian...
Cùng thời gian này, Nguyễn Duy viết Trăng và trắng trong tập Đường xa (1989) với 4 câu khổ cuối:
Ôi giời ơi... non nỏ sao
Bàn chân lông ngỗng dắt vào nơi đâu
Trắng tinh – trắng toát – trắng phau
Ngó qua thấy đẹp ngắm lâu rợn người...
Không biết có gì chung trong cảm nhận thế sự của hai nhà thơ cùng thế hệ này không?
Năm 1999, vào đất Mũi Cà Mau, Trần Nhuận Minh viết bài Cảm ơn Cỏ, như một triết lý về đời. Một mặt, anh cho ta nhận ra cái mỏng manh, tơi tả, tươi tát của cỏ:
Rễ bật, thân trôi, nhành tướp và hoa rụng
Hoa dạt quanh mùn lá, nảy mầm xanh
Mầm nhô xíu vắt vò, hụt chân tìm điểm tựa
Sống hết đời vẫn không hết mong manh
Cây đước chết rồi, cây mắm chết
Ôm phù sa từng giọt thắm hồng câu
Cỏ chợt mọc rồi chìm dưới nước mặn
Thoi thóp ngoi trong sóng gió nát nhàu.
Nhưng mặt khác, cỏ lại mở ra sự sống:
Ngọn cỏ bị lãng quên, bơ vơ cuối chân trời
Bên bờ sông để mở ra sự sống.
Đất đang sinh, lớn từng vòng biển rộng
Cũng bắt đầu từ ngọn cỏ này thôi.
Dưới đây là nội dung được gõ lại từ hình ảnh và đã chỉnh sửa lỗi chính tả, chuẩn hóa dấu câu cho mạch lạc hơn:
Cái sự sống bền bỉ và bất diệt của cỏ, trong hình hài nhỏ nhoi, tơi tả, và trong cái số phận ai cũng có thể dẫm lên của nó như một biểu tượng của nhân dân khiêm nhường mà vĩ đại, có lẽ đã thành ý niệm rõ nét dần trong Trần Nhuận Minh. Không chỉ thế, nó còn là hiện thân, là hóa thân cho Nhân nghĩa và Tự do, cho cái tốt, cái thiện; như đã một lần anh cho ta thấy trong bài thơ anh viết về Đông Kí Sốt:
Nhân nghĩa và Tự do,
ước nguyện của hồn anh đã hiện thành Hoa Cỏ.
Nó chẳng vô tâm trong mọi tiết trời,
bên các nẻo đường đi
Trong Lời từ biệt (1993) được chọn làm bài khép tập thơ cho những lần tái bản Nhà thơ và Hoa Cỏ sau này, Trần Nhuận Minh cho biết:
Tìm anh ư? Ở bất cứ nơi nào
Khi chợt thấy run run bông cỏ nở
Và:
Gió đã xanh thổi lên từ Hoa Cỏ
Nở bồi bồi những khát vọng muôn sau.
Ở các nhà thơ xưa, thiên nhiên chỉ là mai, lan, cúc, trúc – mỗi loài biểu trưng cho một phẩm giá cao quý của con người. Với các nhà thơ hiện đại, thế giới hoa đa dạng, có người là một đóa sen, một nụ hồng, một bông huệ... Có nhiều người là hoa xoan, hoa bưởi, hoa chanh, hoa bìm bìm, hoa lau, hoa mướp, hoa chuối, hoa ngâu... Còn với Trần Nhuận Minh là hoa cỏ. Anh đi tìm về với hoa cỏ như là biểu tượng của Nhân dân, của Thảo dân, bởi sự quyến rũ của cái mầm vàng lấm tấm đậu trên những cánh nhỏ, làm nên màu xanh bất tận của sông nước quê hương, có trên khắp mọi nẻo đường đi, mọi chặng đường đời.