
Viết về những người thật, với tên thật và các địa chỉ cụ thể là hiện tượng thường có trong thơ, nhưng có lẽ với Trần Nhuận Minh là đậm hơn nhiều người, để có thể thành một chùm lớn gồm nhiều bài, khiến cho có người đã định danh cho nó là vệt thơ chân dung ở Trần Nhuận Minh.
Mợ Hậu, Thím Hai Vui, Ông Hữu, Với chị Hồng Tâm, Dì Nga, Cô Bống, Bà Kim, Cháu Thủy, Ông Vọng, Phúc, Phút lâm chung của cụ Hàn, Gửi bác Vương Liên, Cụ Chiến tiễn cháu gái đi giúp việc gia đình ở nước ngoài...
Mỗi tên riêng là một cảnh ngộ, một số phận mang kịch tính – một cách cho thơ bám chặt và áp mặt vào đời, để gợi thức và đánh động lương tâm theo lối tả thực mà nhiều bậc tiền bối như Đỗ Phủ, Nguyễn Du, Tú Xương, Hồ Chí Minh (trong Ngục trung nhật ký)... đã để lại những bài thơ siêu việt.
Kể lại cho đủ và bình về cái hay của mảng thơ này cần một bài dài; ở đây chỉ dẫn một bài ngắn 12 câu, 60 chữ, có cái tên dài 13 chữ: Cụ Chiến tiễn cháu gái đi giúp việc gia đình ở nước ngoài (1998) để chúng ta cùng ngẫm với tác giả:
Cháu đã qua lớp học
Tập lau nhà, thưa khuy
Tập hầu cơm ông trẻ
Đưa tăm cháu phải quỳ
Tập ăn thừa dưới bếp
Tập khóc chẳng ai hay...
Bài học thời mất nước
Ai ngờ đúng hôm nay
Ba mươi năm thắng giặc
Ngáng dù trong đạn bom
Đói nghèo run tay gậy
Cụ đứng bên đường mòn...
Ở đây cái xót xa không còn mượn giọng hài hước để phô bày như trong bài Lời một người bạn có vợ được chọn đi làm Osin ở Đài Loan, mà là một thương cảm đến trĩu lòng. Từ vợ đi làm “Osin” đến cháu tập làm “người giúp việc” – chuyện không còn là như đùa (ra nước mắt) mà nghiêm chỉnh đến quặn thắt – bởi nó chẳng phải là nỗi xót riêng của người chồng, người ông, mà là nỗi đau chung của đất nước.
Ở lối thơ tả thực này, tôi chú ý hai bài về hai văn hữu của anh – đó là nhà thơ Thanh Tùng trong Trong nhà có pháo (1986) và nhà thơ Vũ Huy Tâm trong Tính chất (1988). Đã từng quen biết Thanh Tùng và Vũ Huy Tâm, đã từng hơn một lần gặp hai anh ở bến phà Bãi Cháy và bến xe Long Biên, thế nhưng tôi vẫn cứ ngạc nhiên về những gì Trần Nhuận Minh phát hiện, trong cách riêng của nhà thơ, một chân dung vừa đời vừa nghề nghiệp mà văn xuôi cần nhiều lời mới nói được.

Với Thanh Tùng:
Đất nước có một thời, / Kẻ gian nhiều như nấm / Không ngờ một nhà thơ / Lại sống bằng... nắm đấm
Đã từng cho một “chưởng” / Những thằng đến “mở” hàng / Cũng từng bị nó đánh / Thuốc xoa vài ba thang
Đã từng uống chè vặt / Đói đến vàng mắt ra / Cũng từng ngày hai bữa / “Thả phanh” nhai thịt gà.
Và Vũ Huy Tâm:
Bản thảo mấy tệp dày / Anh cho vào bao tải / Đeo lên lưng chậm rãi / Nhà văn về Thủ đô
(...)
Trông mình như hành khất / Trộm cướp nó sợ ta / Nhà văn nấp mặt lại / Hồn nhiên cười ha ha...
(...)
Tấm lưng hơi còng còng / Đeo văn về Hà Nội / Trong văn có biển trăng / Bao đời người chìm nổi
Cả một vùng tụ lại / Dưới đáy chiếc bao này / Nhìn anh cười hiền hậu / Tôi bỗng nhòe mắt cay
Những thế hệ trẻ viết văn hôm nay ngồi trước bàn vi tính, bên ly cà phê và lọ hoa, phồn vinh dồn dập mỗi ngày, mỗi tháng thì phóng xe ra phố, cuối tuần lên Tam Đảo, Đà Lạt, hoặc xuống Đồ Sơn, Vũng Tàu... cũng nên biết một chút về mấy thế hệ cha ông. Buồn thương và bi ai lắm cảnh ngộ của người viết, nhưng cũng là cảnh ngộ chung của dân tộc, vào một thời quá dài, con người phải chịu đựng quá nhiều cam go, thử thách. Từ Thanh Tùng, Vũ Huy Tâm và văn vần... mà đi ngược lên Nguyễn Bính, Nguyễn Hồng, Nam Cao... qua đó một đường dây xuyên suốt thân phận nhà văn nước ta ở hai đầu: Trước 1945 tối tăm trong xã hội thuộc địa, và sau 1975 chìm nổi, vật vờ trong một cuộc tìm đường thời hậu chiến.
Cũng phải tính đến trong khuynh hướng tả thực này những bài không ghi tên thật và địa chỉ, nhưng vẫn là những cảnh ngộ thực, số phận thực, để mở rộng giới hạn những bi kịch nhân sinh mà nhà thơ không muốn chỉ là người chứng kiến, người kể chuyện, mà là người đồng cảm, người chia sẻ, bởi nó là một nỗi đau chung, mà thơ, dẫu với sự cô đúc, ý tại ngôn ngoại, cũng vẫn phải vượt biên để tràn sang văn xuôi và kịch.
Thăm bạn, Tiễn bạn ở rạp chiếu bóng, Bạn thân từ thuở quàng khăn đỏ, Cháu đi đào than thổ phỉ, Bạn cũ, Bạn hữu, Tình cờ gặp người quen trên tàu tốc hành Sêvastôpôn - Matxcơva, Chú sang Liên Xô có gặp cháu, Lời một người bạn có vợ được chọn đi làm Osin ở Đài Loan...
Ở đây không có tên riêng, nhưng vẫn là trong khu vực những người thân quen. Và cách kể, có lúc vẫn còn giữ được khí hậu thơ như trong Bạn hữu (1987):
Tuổi hưu mau hạt lệ
Buồn vui để chạnh lòng
Nhớ mình và thương bạn
Cuối đời thành tay không.
Hoặc trong Canh khuya (1991):
Đất đã hẹp mà trời càng thêm hẹp
Trốn vào đâu sông núi vẫn vô tình
Góc phố nào không có lầu Ngưng Bích
Mặt người nào không có dáng Sở Khanh.
Có lúc tràn sang kịch, như trong Bạn cũ (1992):
Hỏi vợ – Vợ bỏ tổ
Hỏi con – Nó vượt biên.
Hỏi nhà – Nhà tổ bán
Hỏi thợ – Địch ai in.
Bây giờ bác muốn gì
Tớ muốn làm liệt sĩ
Đất nước không chiến trường
Hy sinh đâu phải dễ
Có những bài chỉ kể chung chung về người đời như Nghe chuyện hai bà nói chuyện, Trên sân bay Seremechevô... Hoặc không gợi cụ thể về đối tượng như Bài thơ không định viết mà vẫn là một bức tranh nhân gian với cách mạng màu hoa cẩm u, hoặc tối – sáng tương phản. Tất cả có đến đậm chục bài, đủ cho một thế giới nhân sinh có gương mặt lịch sử – một thời của nó – thời chưa hết cái hào hùng bi tráng của chiến tranh đã chuyển sang cái lạnh lẽo, bi thiết của đời thường. Theo năm tháng, ta thấy Trần Nhuận Minh đã theo đuổi vệt thơ này từ nửa sau những năm tám mươi, và cho đến bây giờ cảm hứng tả thực này của anh vẫn còn. Có nghĩa là anh đã theo đuổi nó trên dưới hai mươi năm, đi qua mốc 1986 – từ cách một người tiền trạm trong thơ cho văn học đổi mới. Tôi nói tiền trạm, bởi không phải chờ đến mốc 1986, mà trước đó, thơ anh đã khởi được một mạch ngầm bền bỉ, thầm lặng, nằm ở phía dưới những chuyển động cho văn học đi dần vào một quỹ đạo mới, để thay cho khí hậu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa mà ở tư cách nhà thơ; lại là nhà thơ của giai cấp công nhân; nhà thơ về đề tài công nghiệp (như cách một thời ta quen nói); anh được lĩnh vinh dự và có trách nhiệm phát ngôn và tôn vinh cho nó suốt hai thập niên sáu mươi và bảy mươi.