Phạm Huy Thông: Từ “hùng tráng” Thơ mới đến nhà khoa học xã hội xuất chúng (Phần 2 và hết)

Ngay từ tuổi 18, Phạm Huy Thông đã để lại dấu ấn mạnh mẽ trong phong trào Thơ mới với loạt tác phẩm hùng tráng, được Hoài Thanh trân trọng ngợi ca. Từ thi đàn, ông bước sang khoa học xã hội, trở thành một trí thức lớn, gắn bó trọn đời với văn hóa và học thuật Việt Nam.
9b404304d588e7686697d24e7f0e17ca20151201153804-8-1755277180.jpg
GS Phạm Huy Thông (người thứ 2 từ phải sang) tiếp khách Mỹ năm 1984. Ảnh tư liệu: Viện Khảo cổ học

Trở lại với Huy Thông ngay từ tuổi 18 đã có một khởi động rất ấn tượng, để lại dấu ấn khá đậm trong phong trào Thơ mới, qua 4 tập thơ được ấn hành từ 1934 đến 1936. Đó là: Yêu đương (1934), Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935), Tân Ngọc (1936), cùng nhiều bài thơ lẻ trên các báo như Phong hóa, Ngày nay, Đông Dương tạp chí, Hà Nội mới, Tân thiếu niên...

Và đặc biệt, qua lời bình của Hoài Thanh. 45 tên tuổi được chọn trong Thi nhân Việt Nam không phải bất cứ ai cũng được chọn nhiều bài và được đánh giá cao; có người chỉ một, hoặc vài bài; còn lời bình thì nhiều người có cả khen và chê. Không kể dăm mười người xứng đáng được hưởng trọn sự đánh giá rất cao, và sau này trở thành đại thụ trong nền thơ thế kỷ XX, một số người khác tuổi đời ngắn như Bích Khê, hoặc xuất hiện ngắn như Huy Thông cũng được đánh giá cao. Trong trích tuyển với lời bình giành cho Huy Thông, người đọc thấy rõ Hoài Thanh đã không dấu diếm một tình cảm đặc biệt đối với Huy Thông, qua thơ và cả đối với người. Còn với một số người khác thì thơ và người là có khác nhau; có khi chỉ khen thơ mà tránh nói đến người.

“Đặc sắc của Huy Thông chính ở những bài anh hùng ca như bài Tiếng địch sông Ô tả bước cùng của Hạng Tịch. Chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền lành và xinh trai ấy”. Dẫn một đoạn thơ trong Tiếng địch sông Ô, trong đó có 2 câu:

Nhưng than ôi! Vận trời khi đã tận

Sức “lay thành nhổ núi” mà làm chi!

Hoài Thanh viết: “Hơi văn mà đến thế thực đã đến mức phi thường. Anh hùng ca của Victor Hugo tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn đang chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mạnh. Nó lôi cuốn bừa đi. Người xem thơ ngạc nhiên và sung sướng vì thấy mình vẫn còn đủ tráng khí để buồn cái buồn Hạng Tịch”. Buồn Hạng Tịch gắn với Huy Thông, theo lời bình của Hoài Thanh là một cái buồn sang trọng, buồn gắn với bi mà không ủy mị, không rên rỉ. Nếu chứng kiến cái buồn là trạng thái chủ đạo và bao trùm của Thơ mới trong suốt hành trình của nó thì mới thấy quý cái lạ của Huy Thông, và lời bình của Hoài Thanh là có lý.

Như vậy là Hoài Thanh đã rất tinh tế cho ta thấy trong Thơ mới, Huy Thông đã tìm được cho mình một chỗ trốn, một cách thoát ly thực trạng - cùng lúc là quá khứ và tình yêu, hoặc một tình yêu trong quá khứ; với những câu thơ rất hay, rất tiêu biểu, như:

Đi! Cùng anh tới Cô Tô thành cũ

Chờ trăng lên mơ nữa giấc mơ xưa

Còn tình yêu trong hiện tại thì phải nhường cho Xuân Diệu; tình yêu quê mùa không ai thay được Nguyễn Bính; tình yêu trong trụy lạc phải dành chỗ cho Vũ Hoàng Chương... Một chỗ trốn, tức là một cách thoát ly; và là thoát ly vào nhiều chỗ trốn - đó là nội dung bao trùm của cả phong trào Thơ mới. Thoát ly ở đây là một thái độ đối với thực trạng, và thực trạng ở đây là xã hội thuộc địa (chứ không phải là xã hội mới - như sau này) để thấy không phải thoát ly nào cũng là tiêu cực như sự phê phán kéo dài trong nhiều chục năm sau 1945. Riêng cách thoát ly của Huy Thông thì ít có lý do để phê phán và tự phê phán. Và đương nhiên thế giới thơ Huy Thông là có một độ chênh, một so lệch so với thế giới thực - nó chỉ là thế giới của ao ước, của khao khát, và diễn ra trong tưởng tượng; và điều này cũng đã được Hoài Thanh nói đến:

“Chỉ tiếc rằng Huy Thông, người anh hùng trong mộng tưởng ấy lại cũng là một người thiếu niên khao khát yêu đương và rất lễ phép với đàn bà. Có khi vô tình người đã phác họa Hạng Tịch theo hình ảnh của mình. Đã đành Hạng Tịch mê Ngu Cơ, đã đành ái tình không chia kim cổ, nhưng tình yêu của Hạng Tịch hẳn phải thế nào chứ”. Hãy đến với Huy Thông mà nhận diện kiểu tình yêu đó!

thi-nhan-viet-nam-1755277305.webp
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh dành nhiều lời trân trọng cho thơ và con người Phạm Huy Thông. Ảnh: Tri thức Việt book

Đọc rất sớm Thi nhân Việt Nam, và qua Thi nhân Việt Nam mà thuộc rất sớm nhiều nhà Thơ mới, tôi đã rất sung sướng khi được nghe, được học, rồi được chỉ dẫn bởi Phó Viện trưởng Viện Văn học Hoài Thanh ở tuổi thành niên. Cũng qua Thi nhân Việt Nam mà tôi được biết rất sớm Huy Thông bởi 2 tuyển chọn thơ cùng với lời bình của Hoài Thanh chiếm khá nhiều trang, so với nhiều tác giả khác; một là kịch thơ Anh Nga - 43 khổ - 176 câu, gồm 3 nhân vật: Anh Nga, Ngân Sinh và một “nhân vật” thứ ba là Tiếng ca - thay lời tác giả hoặc công chúng; và bài thơ Khúc tiêu thiều, 7 khổ 28 câu, gợi nhớ tình yêu Tây Thi - Phạm Lãi thời Chiến quốc Trung Hoa. Cả kịch thơ và thơ đều có chủ đề tình yêu, nhưng là tình yêu trong sương khói lịch sử và hòa trộn với thiên nhiên; một thiên nhiên với “vầng hồng tắm nắng chân mây xa” gần như là đứng yên bất động ở phía chân trời...

Đây là tình yêu còn rất thanh khiết, không nhuốm màu vật dục, càng không trụy lạc hoặc phá phách, điên loạn, được phát ngôn bởi, và rất thích hợp với - một tuổi trẻ nhiều khát vọng.

Năm năm sau ngày thành lập Viện Văn học, vào năm 1965, Viện Khoa học xã hội ra đời, rồi sau đó chuyển thành Ủy ban khoa học xã hội. Mãi đến lúc này tôi mới có hoàn cảnh tiếp xúc với Phạm Huy Thông - nhà Thơ mới tôi mới chỉ có thể hình dung rất ấn tượng qua thơ, nhờ vào Hoài Thanh; còn bây giờ là một trí thức lớn, cấp Phó cho Giáo sư Chủ nhiệm Nguyễn Khánh Toàn. Không biết có cuộc hội ngộ nào thú vị giữa Hoài Thanh và Phạm Huy Thông 30 năm sau sự kiện Thơ mới và Thi nhân Việt Nam? Tôi nói 30 năm, bởi từ 1969 Hoài Thanh đã rời Viện Văn học để chuyển sang Hội Nhà văn Việt Nam, rồi mất vào năm 1982, ở tuổi 73. Còn Phạm Huy Thông thì từ giữa thập niên 1960 mới chuyển về Ủy ban khoa học xã hội, đến tháng 6 - 1988 mới qua đời ở tuổi 72. Vào đúng thời gian này, tôi được nhận chức trách Viện trưởng do anh chị em cán bộ Viện Văn học bầu - một Viện trưởng duy nhất được bầu; và không lâu sau đó, GS Hà Văn Tấn, người đồng hương của tôi công tác ở Đại học Tổng hợp được mời về Ủy ban khoa học xã hội nhận chức trách Viện trưởng Viện Khảo cổ còn để trống sau khi Viện sĩ Phạm Huy Thông qua đời./.

GS. Phong Lê