Nếu một kỳ thi vừa phải xác nhận hoàn thành giáo dục phổ thông, vừa được kỳ vọng phân loại học sinh, vừa cung cấp dữ liệu tuyển sinh đại học, thì liệu có phải chính sự chồng lấn chức năng ấy đang khiến việc dạy và học ngày càng bị cuốn theo điểm số? Muốn trở lại với giáo dục thực chất, có lẽ cần bắt đầu từ một nguyên tắc rất giản dị: Mỗi cấp học phải thực hiện đúng chức năng của mình và mỗi kỳ thi chỉ nên làm đúng công việc mà nó được sinh ra để làm.

Một độ chênh không nên chỉ được nhìn như chuyện điểm số
Theo bảng số liệu đang được chia sẻ, điểm trung bình của học sinh Trường THPT Chuyên Tuyên Quang ở hai lần thi có sự thay đổi rất đáng chú ý. Toán từ 9,58 xuống 6,24; Vật lí từ 8,32 xuống 6,64; Hóa học từ 8,95 xuống 7,53; Sinh học từ 8,79 xuống 5,87; Lịch sử từ 9,31 xuống 5,55; Địa lí từ 7,79 xuống 6,77; tiếng Anh từ 7,90 xuống 5,46. Riêng Ngữ văn giảm ít hơn, từ 7,53 xuống 7,18.
Đặc biệt, môn Lịch sử giảm tới 3,76 điểm; Toán giảm 3,34 điểm; Sinh học giảm 2,92 điểm; tiếng Anh giảm 2,44 điểm. Đây là những khoảng cách đủ lớn để đặt ra câu hỏi đối với giáo dục ở một trường trọng điểm của tỉnh.
Tuy nhiên, cần rất thận trọng khi diễn giải những con số này. Muốn kết luận về chất lượng giáo dục của một nhà trường phải biết hai lần thi có cùng đối tượng hay không, cấu trúc và độ khó của đề thi ra sao, mục đích của từng kỳ thi, điều kiện tổ chức, cách chấm và nhiều biến số khác. Một bảng thống kê trên mạng không đủ cơ sở để quy kết rằng kết quả nào là “thật”, kết quả nào là “ảo”.
Nhưng, chính vì vậy, câu chuyện lại đáng suy nghĩ ở một tầng sâu hơn.
Một hệ thống giáo dục lành mạnh không nên sợ những phép đo độc lập. Nếu kết quả học tập phản ánh năng lực thực chất thì thay đổi đề thi, người ra đề, nơi tổ chức hay mục đích đánh giá có thể làm điểm số dao động, nhưng không nên làm hình ảnh về năng lực người học biến đổi quá lớn.
Và, đây không chỉ là câu chuyện của Chuyên Tuyên Quang.
Nó gợi lại căn bệnh đã tồn tại nhiều năm trong giáo dục: Học để thi, dạy để thi, luyện để đạt điểm, rồi lấy điểm số làm thước đo gần như tuyệt đối của chất lượng giáo dục.
Khi mục tiêu của giáo dục bị thu hẹp thành kết quả một kỳ thi, rất dễ xuất hiện một chuỗi phản ứng: Trường chạy theo thành tích, giáo viên chạy theo phổ điểm, phụ huynh chạy theo trường “top”, học sinh chạy theo điểm chuẩn. Cuối cùng, đứa trẻ có thể đạt rất nhiều điểm cao nhưng chưa chắc đã hiểu mình giỏi gì, thích gì và nên trở thành người như thế nào? Đó mới là điều đáng lo.
Giáo dục thực chất không phải là làm cho điểm thi đẹp
Điều đáng chú ý là tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục từ rất sớm đã xác định khá rành mạch chức năng của từng cấp học.

Người viết: “Tiểu học thì cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu Nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn.” Với trung học, Người yêu cầu phải bảo đảm cho học trò “những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực”, còn đại học phải “kết hợp lý luận khoa học với thực hành”.
Đọc lại những điều ấy của Người, cá nhân tôi, hôm nay vẫn thấy một tư duy giáo dục rất hiện đại.
Tôi hiểu rằng, tiểu học trước hết phải hình thành con người. Trẻ phải biết đọc, biết viết, biết tính toán, biết tự chăm sóc bản thân, biết yêu thương, trung thực, kỷ luật, có óc tò mò và niềm vui khám phá. Một đứa trẻ 7, 8 tuổi không cần được biến thành một “thí sinh” thu nhỏ.
THCS phải cung cấp nền học vấn phổ thông căn bản và bắt đầu giúp trẻ nhận biết năng lực, thiên hướng của mình. Đây phải là giai đoạn khám phá: Em nào có tư duy toán học, em nào có năng khiếu ngôn ngữ, em nào khéo tay, có năng lực kỹ thuật, nghệ thuật, thể thao, công nghệ hay giao tiếp xã hội.
THPT không nên đơn thuần là ba năm luyện thi đại học. Đây phải là giai đoạn hoàn thiện học vấn phổ thông đồng thời phân hóa và định hướng nghề nghiệp. Học sinh có năng lực và nguyện vọng nghiên cứu, học thuật tiếp tục chuẩn bị vào đại học; người phù hợp với công nghệ, kỹ thuật và nghề nghiệp thực hành được mở một con đường khác, có giá trị và phẩm giá xã hội ngang bằng.
Tinh thần đó cũng tương thích với chính định hướng phân luồng hiện nay: Việc lựa chọn con đường học tập phải hài hòa giữa nguyện vọng, năng lực của học sinh với nhu cầu nhân lực, đồng thời bảo đảm khả năng liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và học tập suốt đời.
Vấn đề của chúng ta là trong nhận thức xã hội, “phân luồng” nhiều khi vẫn bị hiểu thành phân hạng con người.
Đại học được coi là thành công. Học nghề bị coi là lựa chọn thứ hai.
Chừng nào tâm lý ấy chưa thay đổi thì điểm số, chất lượng giáo dục luôn khiến chúng ta phải dõi theo, suy tư và trăn trở.