Truy xuất nguồn gốc thực phẩm thay đổi từ 15/11

Từ ngày 15/11/2026, quy định mới về cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương có hiệu lực, trong đó bổ sung yêu cầu về lưu trữ hồ sơ, cung cấp thông tin và thực hiện truy xuất nguồn gốc khi sản phẩm có nguy cơ mất an toàn.

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư 63/2026/TT-BCT quy định về cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Văn bản quy định việc tạo lập, quản lý, cập nhật, kết nối và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý an toàn thực phẩm, chất lượng hàng hóa và truy xuất nguồn gốc.

Một trong những nội dung đáng chú ý là trách nhiệm của cơ sở sản xuất, kinh doanh trong việc thiết lập và lưu trữ thông tin liên quan đến sản phẩm thực phẩm. Hồ sơ phải bảo đảm đầy đủ thông tin cần thiết về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm, đồng thời có thể cung cấp khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

Đối với thực phẩm có hạn sử dụng, hồ sơ, tài liệu liên quan đến truy xuất nguồn gốc phải được lưu trữ tối thiểu 12 tháng kể từ ngày hết hạn sử dụng. Với sản phẩm không yêu cầu ghi ngày hết hạn, thời gian lưu trữ tối thiểu là 60 tháng kể từ ngày sản xuất.

tp-177302975093726516550-1791257237.jpg
Thông tư quy định cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải thiết lập, lưu trữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm. (Ảnh: Báo Chính phủ)

Một yêu cầu đáng chú ý khác là khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có khả năng cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc trong thời hạn 24 giờ.

Quy định này đặc biệt quan trọng khi phát hiện sản phẩm có nguy cơ mất an toàn hoặc sản phẩm không bảo đảm an toàn. Khi đó, cơ sở sản xuất phải xác định lô sản phẩm liên quan, rà soát hồ sơ để tìm nguyên nhân, kiểm tra thông tin về nguyên liệu và bao bì, đồng thời phối hợp với các đơn vị đã tiếp nhận sản phẩm để xử lý.

Các nhà phân phối, đại lý nhận lô hàng cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin về số lượng đã bán, số lượng còn tồn khi được yêu cầu. Qua đó, quá trình truy xuất có thể xác định sản phẩm đã được đưa đến đâu và phạm vi cần thu hồi, xử lý nếu có sự cố.

Đối với cơ sở kinh doanh, khi phát hiện thực phẩm có nguy cơ mất an toàn hoặc nhận được yêu cầu của cơ quan quản lý, đơn vị này phải phối hợp với nhà sản xuất, nhà phân phối để thực hiện truy xuất. Việc phối hợp kịp thời giúp hạn chế nguy cơ sản phẩm không bảo đảm an toàn tiếp tục được lưu thông trên thị trường.

Bên cạnh dữ liệu về truy xuất nguồn gốc, cơ sở dữ liệu thực phẩm còn bao gồm thông tin về cơ sở sản xuất, kinh doanh; sản phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm; hồ sơ công bố sản phẩm; hoạt động kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm; xử lý vi phạm, cảnh báo và thu hồi thực phẩm.

Việc hình thành và kết nối dữ liệu giúp cơ quan quản lý có thêm cơ sở theo dõi quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm, đồng thời hỗ trợ việc kiểm tra và xử lý khi xảy ra vấn đề về chất lượng, an toàn thực phẩm.

Đối với doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh, quy định mới đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn trong việc quản lý hồ sơ và thông tin sản phẩm. Việc lưu trữ không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra mà còn giúp doanh nghiệp nhanh chóng xác định nguyên nhân, phạm vi ảnh hưởng và phối hợp xử lý khi phát sinh sự cố.

Thông tư 63/2026/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 15/11/2026. Những yêu cầu mới về dữ liệu và truy xuất nguồn gốc được kỳ vọng giúp việc quản lý thực phẩm có cơ sở thông tin đầy đủ hơn, đồng thời tăng khả năng kiểm soát sản phẩm trong quá trình lưu thông trên thị trường.

Với người tiêu dùng, việc lưu trữ và truy xuất thông tin đầy đủ sẽ giúp quá trình kiểm soát nguồn gốc thực phẩm rõ ràng hơn, nhất là khi sản phẩm phát sinh vấn đề về an toàn hoặc chất lượng.
 

Duy Thông (TH)