Chiều 19/8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng. Cùng dự có Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng và đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; Lãnh đạo các Bảo tàng.

Cả nước có hơn 40.000 di tích và khoảng 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê
Báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng cho biết, hiện nay, cả nước có hơn 40.000 di tích và khoảng 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê. Trong đó, có 37 di sản được UNESCO ghi danh, gồm 9 Di sản thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể và 11 di sản tư liệu; 149 di tích quốc gia đặc biệt, 3.688 di tích quốc gia, gần 12.000 di tích cấp tỉnh, thành phố, 735 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể; 357 hiện vật, nhóm hiện vật được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.
Cả nước đã có hơn 20.000 di vật, cổ vật được đăng ký theo quy định của Luật Di sản văn hóa, 177 bảo tàng, lưu giữ và trưng bày trên 4 triệu tài liệu, hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập, hiện vật đặc biệt quý hiếm.
Đội ngũ nghệ nhân là những người trực tiếp đóng góp quan trọng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, tính đến nay, đã có 1.881 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, trong đó có 131 Nghệ nhân nhân dân và 1.750 Nghệ nhân ưu tú.
Trên phương diện quốc tế, Việt Nam tham gia 3 Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và 1 Chương trình của UNESCO, giữ vai trò chủ chốt của 2 Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và 1 Chương trình Ký ức thế giới về di sản tư liệu của UNESCO.

Việt Nam là quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về số lượng Di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh trong Danh sách của UNESCO theo Công ước 2003, đứng thứ hai về số lượng Di sản thế giới được UNESCO công nhận theo Công ước 1972; được UNESCO đánh giá là điển hình mẫu về mô hình quản lý di sản gắn với phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững của UNESCO.
Việt Nam hiện có 204 bảo tàng
Việt Nam hiện có 204 bảo tàng gồm: 127 bảo tàng công lập, 77 bảo tàng ngoài công lập. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, các bảo tàng địa phương cũng được sắp xếp, tổ chức lại; tính đến ngày 30/6/2026 hệ thống bảo tàng Việt Nam có 177 bảo tàng (94 bảo tàng công lập, 83 bảo tàng ngoài công lập).
Thời gian qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp chặt chẽ với các Ban, Bộ, ngành, các địa phương, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về di sản văn hóa, bảo tồn, bảo tàng. Đã tham mưu xây dựng hệ thống pháp luật về di sản văn hóa, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về di sản văn hóa; lập hồ sơ khoa học trình công nhận, ghi danh, xếp hạng di sản văn hóa vào các danh mục quốc gia, khu vực và thế giới; phối hợp thẩm định Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, di sản thế giới; ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa…
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu trong toàn ngành và trung tâm dữ liệu quốc gia của Chính phủ; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công tác giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên thông qua di sản văn hóa. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về di sản văn hóa, tuyên truyền giới thiệu về di sản văn hóa, thiên nhiên đất nước và truyền thống tốt đẹp của dân tộc được triển khai ngày càng phong phú, có hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức, bồi đắp lòng yêu nước, tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị, truyền thống văn hóa tốt đẹp của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Tuy nhiên, nhiều di sản văn hóa phi vật thể chưa có thế hệ nghệ nhân kế cận, trong khi nhiều nghệ nhân tuổi đã cao, già yếu dẫn tới nguy cơ mai một, thất truyền; công tác kiểm kê, sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể ở một số địa phương còn chưa thực sự được quan tâm; nhiều nơi còn lúng túng trong việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; giữa phát triển kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh, giữa lợi ích trước mắt với sự phát triển bền vững...

Công tác bảo tồn, bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa đang có những chuyển biến tích cực
Theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, nhìn tổng thể, công tác bảo tồn, bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa đang có những chuyển biến tích cực cả về thể chế, quản lý, nguồn lực và phương thức hoạt động. Nhận thức xã hội và sự tham gia của cộng đồng ngày càng được nâng lên; vai trò của cộng đồng chủ thể được khẳng định rõ hơn. Di sản không chỉ được bảo vệ như những giá trị cần lưu giữ mà ngày càng trở thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, du lịch và công nghiệp văn hóa, góp phần xây dựng con người, củng cố khối đại đoàn kết và quảng bá hình ảnh Việt Nam. Hệ thống bảo tàng được củng cố, đa dạng hóa; chuyển đổi số mở ra phương thức mới trong quản lý và tiếp cận di sản; đồng thời vị thế của Việt Nam tại UNESCO và trong hợp tác quốc tế tiếp tục được nâng cao.
Bộ trưởng Bộ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng xác định cần phối hợp tham mưu cơ chế thúc đẩy đầu tư, xây dựng và hoàn thiện một số công trình, thiết chế văn hóa, bảo tàng xứng tầm, hướng tới các dấu mốc lớn như: Kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 100 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến, nơi tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thể thao tầm cỡ quốc tế. Trong đó có định hướng xây dựng Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam cùng một số công trình như nhà hát, trung tâm nghệ thuật, trung tâm thể thao, sân vận động... Đây không chỉ là những thiết chế phục vụ nhu cầu văn hóa, xã hội trước mắt mà còn có thể trở thành những công trình có giá trị lâu dài, đóng góp vào diện mạo văn hóa của đất nước trong tương lai.
Một trong những yêu cầu quan trọng được Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đề cập là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới và hội nhập quốc tế.
Sau khi nghe báo cáo và các ý kiến thảo luận, phát biểu kết luận tại buổi làm việc, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải nhìn lại một cách nghiêm túc năng lực kiến tạo và cấu trúc của hệ thống bảo tồn, bảo tàng; đồng thời xử lý dứt điểm những bất cập, dự án kéo dài, và từng bước làm giàu các bộ sưu tập quốc gia; nghiên cứu cơ chế và tổ chức các hoạt động đưa những cổ vật, hiện vật có giá trị đặc biệt của Việt Nam đang lưu giữ ở nước ngoài trở về với đất nước.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, mỗi hiện vật hồi hương không chỉ là một tài sản văn hóa được đưa trở lại, mà còn góp phần hoàn chỉnh câu chuyện lịch sử, làm giàu ký ức quốc gia. Đồng thời, phải khắc phục những khoảng trống trong việc lưu giữ lịch sử Việt Nam từ khi đất nước giành độc lập đến nay, nhất là lịch sử của quá trình kiến thiết, phát triển và biến đổi xã hội.
Nhấn mạnh hơn 80 năm qua, từ khi đất nước giành độc lập đến nay, là một trong những giai đoạn được ghi chép, nghiên cứu và lưu giữ nhiều nhất trong lịch sử dân tộc, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý: “Không phải cái gì cũ cũng giữ lại, càng không phải đặt bảo tồn đối lập với phát triển. Phát triển thì phải cải tạo, thay thế, xây dựng cái mới. Trước khi cái cũ mất đi, chúng ta phải biết trong đó cái gì chỉ là cái cũ, và cái gì đã trở thành một phần của lịch sử, cái gì có thể bỏ đi và cái gì nếu mất đi thì sau này không thể làm lại được. Đó chính là năng lực mà công tác bảo tồn, bảo tàng phải có”.

Yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải hình thành năng lực nhận diện và kiến tạo di sản
Trên tinh thần đó, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải hình thành năng lực nhận diện và kiến tạo di sản của tương lai ngay từ khi những giá trị ấy bắt đầu được hình thành.
Trách nhiệm của thế hệ hôm nay không chỉ là bảo vệ những gì cha ông để lại, mà còn phải suy nghĩ nghiêm túc xem chúng ta sẽ để lại điều gì cho hàng trăm, hàng nghìn năm và mãi mãi về sau. Một công trình muốn có khả năng trở thành di sản hàng thế kỷ thì ngay từ ngày đầu tiên phải tạo điều kiện để công trình ấy có thể sống được hàng thế kỷ, đồng thời lưu giữ được câu chuyện, ký ức và những giá trị làm nên ý nghĩa của công trình.
Đây chính là bước chuyển từ bảo tồn thụ động sang chủ động kiến tạo ký ức quốc gia, trong đó mỗi thế hệ không chỉ tiếp nhận những gì quá khứ để lại, mà còn có trách nhiệm tạo dựng và gìn giữ những giá trị có thể trở thành di sản của đất nước qua hàng trăm, hàng nghìn năm sau.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, phải coi dữ liệu lịch sử, văn hóa và di sản là một bộ phận cốt lõi của hạ tầng văn hóa quốc gia. Thiết lập Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài. Có thể chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát triển dữ liệu, trí tuệ nhân tạo trong bảo vệ, bảo tồn, chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế để phát triển công nghiệp văn hóa; phải giải quyết ngay bài toán bảo tồn số dài hạn...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng lưu ý, AI sẽ ngày càng tham gia sâu vào việc tìm kiếm, tổng hợp, diễn giải và truyền bá tri thức. Vì vậy, nếu dữ liệu lịch sử, văn hóa của Việt Nam không đầy đủ, không được tổ chức tốt và không do chính chúng ta làm chủ, thì về lâu dài, những hệ thống khác có thể trở thành nơi định hình cách thế giới và thậm chí chính người Việt Nam hiểu về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Đây là câu chuyện về chủ quyền tri thức, về quyền tự mình tổ chức và kể câu chuyện của dân tộc mình, chứ không chỉ là một dự án chuyển đổi số của ngành văn hóa.

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, giá trị của mọi thiết chế bảo tồn và bảo tàng phải được khẳng định ở khả năng phục vụ con người, làm giàu đời sống xã hội và trao truyền giá trị cho các thế hệ tương lai…
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải đổi mới cách đánh giá hiệu quả hoạt động bảo tàng; phải đo được có bao nhiêu người đến, ai đến, người trẻ có đến không, có quay trở lại không, hoạt động giáo dục tạo ra tác động gì, nghiên cứu đóng góp được gì, dữ liệu được khai thác thế nào và xã hội nhận lại được gì từ nguồn lực Nhà nước đã đầu tư.
Bộ Giáo dục và Đào tạo phải phối hợp để đưa bảo tàng trở thành một không gian học tập thường xuyên, bởi lịch sử và văn hóa nếu chỉ được truyền đạt qua sách vở thì khó tạo ra sự gắn bó sâu sắc bằng việc được nhìn thấy hiện vật thật, không gian thật và những câu chuyện thật.
“Cha ông đã trao lại cho chúng ta một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với một kho tàng lịch sử, ký ức vô cùng quý giá. Trách nhiệm của thế hệ chúng ta không chỉ là giữ nguyên những gì đã nhận được, mà phải hiểu sâu hơn, làm giàu thêm và trao lại cho con cháu một nền tảng tri thức, lịch sử và văn hóa đầy đủ hơn”, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.