Trong khuôn khổ Chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Tham dự phiên thảo luận tại Tổ, các đại biểu đã tập trung phân tích sâu sắc các chính sách cốt lõi của dự thảo Luật, đóng góp nhiều ý kiến thẳng thắn nhằm bảo đảm tính khả thi, bảo vệ quyền lợi người lao động và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước.
Chống lách luật, bảo vệ tối đa quyền lợi tài chính cho người lao động
Đóng góp ý kiến thảo luận, đại biểu Dương Mạc Kiên, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng, bày tỏ sự tán thành cao đối với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật. Đi thẳng vào các vấn đề thuộc thẩm quyền và phạm vi điều chỉnh trực tiếp của luật, đại biểu đề xuất nhóm ý kiến then chốt.
Về bảo vệ quyền lợi tài chính của người lao động trong giai đoạn chuẩn bị nguồn, đại biểu Dương Mạc Kiên tán thành quy định doanh nghiệp chỉ được thu chi phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề và ngoại ngữ sau khi người lao động đã được bên nước ngoài tiếp nhận tuyển chọn (điểm b, khoản 2, Điều 18 dự thảo). Tuy nhiên, để bảo vệ thực chất cho người lao động, đại biểu đề nghị luật cần quy định rõ hơn quyền được hoàn trả các khoản tiền đã nộp trong trường hợp người lao động không thể xuất cảnh, không được bố trí việc làm hoặc hợp đồng không được thực hiện mà không do lỗi của người lao động. Đổi lại, cần xác định rõ các hành vi như: thu tiền trước thời điểm được phép, thu ngoài hợp đồng, thu thông qua cá nhân hoặc tổ chức trung gian trái quy định là những hành vi vi phạm nghiêm trọng, làm căn cứ để đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép. Các hồ sơ chứng minh việc tuyển chọn, chứng từ thu tiền, thời hạn và trình tự hoàn trả có thể giao Chính phủ quy định chi tiết.
Về kiểm soát hành vi cho người khác sử dụng giấy phép và ngăn chặn việc "thay tên đổi họ" để lách luật, đại biểu tỉnh Cao Bằng tán thành việc bổ sung các khái niệm “trực tiếp tuyển chọn” (khoản 7 Điều 3), “cho người khác sử dụng giấy phép” (khoản 8 Điều 3) và quy định thời hạn hạn chế 05 năm đối với cá nhân, doanh nghiệp có liên quan bị thu hồi giấy phép (khoản 1a, 1b Điều 10 dự thảo). Đây là những nội dung cần được quy định ngay trong luật vì liên quan trực tiếp đến hành vi bị cấm, điều kiện kinh doanh và hậu quả pháp lý.
Tuy nhiên, đại biểu Dương Mạc Kiên lưu ý cơ quan soạn thảo cần rà soát kỹ phạm vi người bị hạn chế "không nên áp dụng đồng loạt đối với mọi thành viên hoặc cổ đông nếu họ không tham gia quản lý, không có khả năng kiểm soát và không có lỗi." Quy định cần tập trung chính xác vào người đại diện theo pháp luật, người quản lý, người kiểm soát, chủ sở hữu hưởng lợi hoặc người có trách nhiệm trực tiếp dẫn đến việc thu hồi giấy phép. Đồng thời, luật cần quy định rõ nguyên tắc công khai tình trạng giấy phép và trách nhiệm chia sẻ thông tin giữa cơ quan cấp phép (Bộ Nội vụ) với cơ quan đăng ký kinh doanh.

Về phân quyền gắn với trách nhiệm quản lý và cơ sở dữ liệu thống nhất, đại biểu tán thành việc phân định thẩm quyền giữa trung ương, UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã. Dù vậy, đại biểu nhấn mạnh việc phân quyền chỉ thực sự có hiệu quả khi thông tin được quản lý thống nhất trên một hệ thống dữ liệu quốc gia.
Hệ thống này phải bảo đảm cho cơ quan quản lý, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và chính quyền địa phương có thể xác định kịp thời người lao động, doanh nghiệp, hợp đồng và đầu mối chịu trách nhiệm khi phát sinh tranh chấp, tai nạn hoặc tình huống khẩn cấp. Đại biểu đề nghị Luật quy định nguyên tắc, thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý; còn các trường dữ liệu, biểu mẫu, thời hạn cập nhật và quy trình kết nối nên giao Chính phủ quy định chi tiết.
Cân bằng nhu cầu nhân lực trong nước và quốc tế, bổ sung chính sách cho vùng đặc thù
Một trong những nội dung nhận được sự phân tích sâu sắc tại phiên thảo luận là chính sách ưu tiên đưa người lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đi làm việc ở nước ngoài theo khoản 1, Điều 4 dự thảo Luật.
Nêu góc nhìn toàn diện về vấn đề này, đại biểu Ngô Trung Thành, Đoàn Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Đắk Lắk nhận định, về tổng thể, đây là quy định có mục tiêu chính sách hết sức tích cực, phù hợp với xu thế chuyển dịch lao động chất lượng cao trên thế giới. Việc đưa lao động trình độ cao sang các nước phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc... giúp người lao động tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng, tác phong công nghiệp, cải thiện thu nhập và sau khi về nước sẽ tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước.

Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh thực tiễn của Việt Nam hiện nay, đại biểu Ngô Trung Thành đề nghị cơ quan soạn thảo cần rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để đáp ứng yêu cầu cân bằng lợi ích. Đại biểu đặt ra hàng loạt câu hỏi cốt lõi, "cần phải đặt rõ, một là chúng ta đặt ra cái quy định ưu tiên thì ưu tiên là ưu tiên so với ai? Và vì sao lại ưu tiên? Và ưu tiên sẽ mang lại lợi ích như thế nào? Và có đủ các căn cứ, đủ căn cứ thực hiện không?"
Phân tích sâu hơn, đại biểu Ngô Trung Thành chỉ ra nguy cơ thiếu hụt nhân lực trong nước khi hiện nay nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt. Trong khi một số ngành nghề có thể dư thừa, thì nhiều lĩnh vực công nghệ cốt lõi phục vụ động lực tăng trưởng mới theo các Nghị quyết của Đảng như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, chuyển đổi số, năng lượng, logistics, công nghệ cao, kinh tế, công nghiệp chế tạo lại đang vô cùng thiếu hụt.
Đại biểu cho rằng: "Nếu Luật của chúng ta xác định là ưu tiên đưa nhóm lao động này - nhóm lao động nước ta đang cần, đang thiếu đi ra nước ngoài sẽ phát sinh thiếu hụt và càng trầm trọng hơn. Kể cả đối với lực lượng này nếu khuyến khích chung chung thì người tốt nhất lại đi ra nước ngoài, còn người tốt vừa ở lại." Bên cạnh đó, đại biểu cũng băn khoăn về giả định lao động chất lượng cao sau khi đi ra nước ngoài với mức thu nhập chênh lệch lớn sẽ quay trở về phục vụ đất nước là điều chưa chắc chắn.
Từ phân tích trên, đại biểu Ngô Trung Thành đề nghị dự thảo Luật chỉ nên quy định ưu tiên đối với những ngành nghề mà trong nước đang dư thừa. Cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát, làm kỹ lại nội dung này, phân hóa rõ đối tượng cần thúc đẩy đưa đi để lĩnh hội kiến thức với đối tượng trong nước đang cực kỳ thiếu hụt, tránh tình trạng "chảy máu chất xám".

Cùng chung băn khoăn về chính sách lao động, từ thực tiễn địa bàn miền núi, biên giới như Tuyên Quang, Cao Bằng, đại biểu Lý Thị Lan, Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang cũng phản ánh khoảng trống pháp lý đối với lao động thời vụ và lao động khu vực biên giới.
Đại biểu Lý Thị Lan cho biết, các tỉnh biên giới đã triển khai cơ chế hợp tác lao động thời vụ qua biên giới từ rất lâu. Tuy nhiên, do chưa được luật hóa nên quá trình triển khai phát sinh nhiều bất cập trong việc bảo đảm quyền lợi và bảo hộ công dân khi có sự cố xảy ra.
Tán thành với Báo cáo thẩm tra và giải trình của Chính phủ về việc chưa đưa ngay toàn bộ lao động thời vụ, lao động qua biên giới không có hợp đồng vào phạm vi điều chỉnh của dự thảo lần này (để tránh thay đổi phạm vi, đối tượng áp dụng của luật), đại biểu Lý Thị Lan đề xuất một giải pháp thiết thực là bổ sung ngay một nguyên tắc chính sách tại Điều 4 của Luật.
Theo đó, quy định Nhà nước có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với người lao động là người dân tộc thiểu số, người lao động cư trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, địa bàn biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tham gia các chương trình đi làm việc ở nước ngoài.
Đại biểu Lý Thị Lan khẳng định, việc bổ sung nguyên tắc chính sách tại Điều 4 không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho Chính phủ tiếp tục thí điểm các mô hình phù hợp trước khi luật hóa hoàn toàn trong luật thay thế sau này, mà còn đảm bảo sự thống nhất, chặt chẽ về kết cấu logic với Điều 70 dự thảo Luật - nơi đã bổ sung trách nhiệm của các cơ quan trong việc phối hợp hỗ trợ lao động là người dân tộc thiểu số và vùng khó khăn đi làm việc ở nước ngoài cũng như hòa nhập thị trường lao động khi trở về.