Chu Văn và hành trình xây dựng thế giới nghệ thuật đa thanh trong văn xuôi Việt (Phần 3)

Bão biển, như tên gọi của nó, gợi một ấn tượng mạnh mẽ và hùng vĩ. Và người đọc, từ tên sách vào truyện, ngay từ trang đầu, chương đầu đã không bị hẫng, hoặc nhầm. Cuộc sống một vùng nông thôn công giáo, có đất và biển, có địch và ta, có tiến bộ và lạc hậu, có mới và cũ... rõ là bề bộn, không dễ phân biệt; và trận địa ở đây không phân ranh giới. Có hai kẻ địch: Một là bọn phản cách mạng đội lốt cha cố hoặc con chiên mê muội, và một là những người lạc hậu. Nhưng giữa hai loại người đó, nói như tác giả, đâu phải lúc nào cũng dễ phân biệt: “Những kẻ phản động, người xấu thường hay trà trộn với những người lạc hậu. Những người lạc hậu khi tưởng rằng mình đúng lẽ, thường có những hành động liều lĩnh, bậy bạ, đúng như ý muốn của bọn phản động”.
img-9971-1763750284.JPG
Bão biển được Chu Văn hoàn thành cuối năm 1965 – thời điểm đầy biến động nhưng giàu nội lực sáng tạo. Ảnh: Internet

Nhưng người viết thì không thể mơ hồ, nhầm lẫn, hoặc làm cho người đọc nhầm lẫn. Mặt khác, phê phán những con người do ngu dốt, mù quáng mà đi vào mê tín, mà có “ảo tưởng đối với hoàn cảnh”, nhưng chủ yếu là phê phán “một hoàn cảnh cần phải có ảo tưởng”. Từ đó mà đem lại cho người đọc cái kết luận tất yếu rút ra từ cuộc sống về sự cần thiết phải tiến hành công cuộc cải tạo triệt để toàn bộ nền tảng xã hội, tức là con đường nhằm đi tới giải phóng triệt để cho con người, cả “phần xác” lẫn “phần hồn”. Kết luận ấy đã được đặt ra như một sự thôi thúc lớn, như một ám ảnh dai dẳng trên không ít số phận con người trong tập I, nhưng đáng tiếc là dần dần có xu hướng dãn ra, ở tập II, khi tác giả cho nhân vật thay đổi vị trí công tác, hoặc chuyển đổi môi trường hoạt động...

Với Bão biển, có thể nói cuộc sống đã được kết tinh trong dạng cụ thể và cô đặc; nói cách khác, đã hiện ra trong dạng của thế giới nghệ thuật đích thực. Đáng quý biết bao một tư duy khái quát, một bản lĩnh tiểu thuyết, một bút pháp dựng ở Chu Văn, nó làm cho mỗi cảnh sống ở đây sao mà sinh động, tươi rói như vừa được gạn từ đời thực ra. Lâu lắm rồi, chỉ đọc thoáng một lần, ta vẫn không sao quên được cảnh lễ đầu dòng xứ Bài Chung, với bao nhiêu chuyện chen lấn, xô đẩy, với bao nhiêu cảnh trớ trêu, chua chát hoặc tức cười. Và gắn với các cảnh đời, là các chân dung, các gương mặt người. Không kể thế giới nhân vật chính - những Tiệp, Thất, những Nhân - Ái - xơ Khuyên; những cha Hoan, cha Độ... được mô tả với không ít đường nét như khảm họa, ngay một số nhân vật phụ cũng trở nên thân thuộc và gắn vào ta như một ám ảnh. Một bộ Sức sống dơ dáy, khùng điên mà có lúc tỉnh táo, và chỉ nhờ vào phút đó mà hiểu ra... sự đời!... Một cụ Ba Bơ nghễnh ngãng chỉ thấp thoáng đâu đó mà làm ta nhớ cái hài hước, tếu nhộn của Suca trong Đất vỡ hoang. Một thầy dòng San gian manh, quỷ quyệt, vẻ đạo mạo mà đầy dục vọng sau cặp kính, mà chân dung đã được nói ở một cảnh săn gái và trong câu nói rất có “thần” này: “Tu hành à! Có ở trên giới không biết thế nào, chứ dưới trái đất này, anh nào cũng “mắm sốt”... tu cái con khẹc!”. Nhưng càng đáng quý là con mắt của người viết, biết từ trong cái bề bộn, sinh động của đời thực mà lấy ra được những vấn đề có ý nghĩa, khiến cho tác phẩm không chỉ dừng là ở một bức tranh, mà là một bức tranh có hồn, có sức lôi cuốn con người nhập cuộc. Đâu phải cuốn sách chỉ cho ta biết, mà còn cho ta sống với nó, để từ sự sống mà chiêm nghiệm biết bao lẽ đời và tình người. Cũng là dạng cán bộ cơ sở, nhưng nếu ở Tiệp là tấm gương tận tuỵ, kiên định, không nhân nhượng một bước trước kẻ thù, nhưng lại có lúc mềm lòng, thiếu nhạy cảm và dũng cảm để đón bắt hạnh phúc, để cuối cùng riêng chịu sự khổ hạnh và bất hạnh, thì ở Thất lại là một bài học về sự thiếu cảnh giác và nhu nhược, đi đến bất lực và mất hẳn khả năng điều hành cái hậu phương khá bê bối là gia đình, với bà vợ ham danh vọng, thích tâng nịnh, và nhất là với đứa con gái một, hỗn láo, đua đòi ăn diện, bị bọn xấu lợi dụng, đang sẵn sàng làm nhem nhọ mặt bố. Cũng là những con chiên ngoan đạo, nhưng đường đời và số phận của bà Hai Khoản hoặc cụ Trùm Nhâm, của Nhân và xơ Khuyên, của Nhân và Ái đâu có giống nhau.

gh-vn-3-scaled-1763750416.jpg
Cảnh lễ nghi đông đúc nơi một làng Công giáo – không gian được Chu Văn tái hiện đầy sống động trong Bão biển. Ảnh: Internet

Nói đóng góp của Chu Văn trong Bão biển tôi không nhấn mạnh về độ dài của số trang. Độ dài đó văn xuôi sớm đã có trong các tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi... Tôi muốn nói chiều sâu, sức đúc kết của hiện thực được phản ánh, cái nhìn sắc và bút pháp dựng, để cho cuộc sống thật sự được tái tạo y như thật, cao hơn thật.

Trở lại ý tưởng: Nói tiểu thuyết trước hết là nói nhân vật. Và là nhân vật trong sự đầy đặn và sắc nét của nó. Nếu sự quan tâm của người viết không dành cho nhân vật mà dành cho một khu vực nào khác thì tác phẩm vẫn có thể lớn, có thể hay, nhưng không phải là tiểu thuyết. Trong thế giới đa thanh của Bão biển, hai nhân vật Tiệp - Thất nổi lên như một cặp đôi, vừa khác nhau vừa bổ sung cho nhau. Với Tiệp - Thất, Chu Văn đã góp vào phòng tranh văn học hiện đại một cặp chân dung, bên con số chưa nhiều chân dung gồm những Hoàng - “Tiên sư anh Tào Tháo”, A Phủ, Tuy Kiền, Út Tịch... Và riêng với Tiệp, anh bộ đội phục viên trở về quê hương, vị cán bộ chủ chốt của xã có thể xem là một nhân vật tích cực, một điển hình chính diện không sơ lược mà đầy chất sống, càng là thuộc con số hiếm của nền văn học mới, nếu đứng ở độ lùi hôm nay mà nghiêm khắc kiểm tra lại. Tiệp, như tác giả nói, được xây dựng với “gần đủ những đức tính lý tưởng”(2). Tôi nghe ý này hơi ngờ ngợ, vì không thấy khớp với văn bản Bão biển. (Và hình như tác giả cũng không nói thật lòng mình?). Ở đây rõ ràng tác giả có sự rào đón, hẳn vì ngại một sự phán xét nào đó, mà có lúc tôi cũng có được nghe loáng thoáng đâu đó, đại loại, đã là nhân vật chính diện thì “không thể có sai lầm về đường lối, không thể mất lập trường”... Nhân vật chính diện có thể phạm bất cứ điều gì, nhưng đừng có để họ vi phạm các “điều cấm” trên. Cái sự chập chờn, phân vân, nửa chấp nhận, nửa như cưỡng lại ấy thể hiện qua câu hỏi của chính tác giả đặt ra, trong một bài tâm sự về mình: “Tiệp đã xứng đáng là người anh hùng bình thường chưa? Người anh hùng cũng có thể phạm sai lầm. Nhưng phạm sai lầm và kém cảnh giác thì có nên chăng?”. Kinh nghiệm thực tiễn đã dư đủ căn cứ cho ta trả lời câu hỏi trên. Chê Ghêvara dấn thân vào một sự hy sinh khó tránh, nhưng đâu phải vì vậy mà Chê không còn là người anh hùng chẳng phải riêng Cuba, mà toàn châu Mỹ La Tinh? “Sai lầm về đường lối” chẳng phải là cái có thể xảy ra cho bất cứ cá nhân bình thường hoặc anh hùng nào mà là một... tập thể những... “người lãnh đạo”. Đúng là những ý nghĩ, những suy diễn xuất phát từ mong muốn, còn sự đời thì cứ ngãng ra! Cả hai nhân vật được tác giả và người đọc cực kỳ yêu mến của Sôlôkhốp trong Đất vỡ hoang đều nhận vào mình những băng đạn của kẻ thù vì đã quá mất cảnh giác; thế nhưng ai lại dám phủ định đó không phải là những nhân vật chính diện. Tiệp của Chu Văn không dứt được tình yêu với Nhân, vợ cũ của một tên biệt kích, đã trốn vào Nam, đó chẳng phải là chuyện “mất lập trường”. Anh phải bỏ trốn sang xã khác, để quên đi mối tình, rồi chết hụt - đó là cái sức cưỡng lại để cho nhân vật vẫn được là mình, và do thế, mà vẫn được là chính diện “thứ thiệt”. Cũng chính cái sức cưỡng lại của tác giả trước một sự sống mà ông không nỡ, hoặc không dám uốn nắn lại cho hợp với một kích thước nào. Tiệp đâu có đủ “những đức tính lý tưởng” như tác giả nhận xét, hoặc như ông mong muốn. Nhưng có như vậy mới là đúng, là thật; và ở Tiệp, Bão biển đã ghi nhận một chiến công của sự thật.

Lại còn Nhân, dạng nhân vật như Chu Văn nói, “khó khăn chật vật lắm mới đi đến lẽ phải”. Đã “khó khăn, chật vật”, thì sao lại tránh được sai lầm, sao lại có thể hạ lỗi tự phê bình: “Nhiều đoạn Nhân trở thành phản diện, đáng trách, mất cảm tình người đọc”. Tôi cho là, cũng như trong nhận xét về Tiệp, ở đây tác giả vẫn tiếp tục tự mâu thuẫn với mình, vì một sự e ngại nào đó. Bây giờ tôi chắc Chu Văn đã có thể tự mình tháo gỡ, chứ không cần nhờ ai tháo gỡ, đã có thể phê bình, chứ không cần tự phê bình: “Nhân từ bỏ hết và sẽ có điều kiện gần lại với Tiệp sau này” dẫu trước đó không lâu Nhân vẫn còn hy vọng cảm hóa được thằng chồng cũ. Cái kết thúc về “sự gần lại với Tiệp” đó chỉ mới hé ra mong manh, sau cái chết hụt của Tiệp, chứ chưa là sự thật trong Bão biển, nhưng chính nhờ đó mà Bảo biển mang một dư vị lạc quan; nhờ đó, cuộc sống có thêm bề dày, thêm sức chở.

GS. Phong Lê