Phong trào Thơ mới tôi đã được làm quen từ khi là học sinh bậc Tiểu học ở quê. Nhiều câu thơ của các nhà thơ nổi danh đã đến và làm tổ trong tâm trí tôi, nhờ vào cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, gồm từ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Xuân Diệu... đến Nguyễn Bính, Vũ Đình Liên, Đoàn Văn Cừ, Huy Cận, Chế Lan Viên... Thế nhưng có một nhà thơ không có tên, không có tuyển trong Thi nhân Việt Nam lại có thể có ít nhất một câu, hoặc vài câu đọng rất sâu trong bộ nhớ của tôi, và ngân nga trong trí, dẫu tôi không hiểu gì về nó, đó là Nguyễn Xuân Sanh, với:
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
Lớn hơn một chút, vào đời sinh viên, những vui buồn của tôi từng được chia sẻ, trang trải, chứng nghiệm qua Thi nhân Việt Nam, lại có dịp bổ sung thêm Xuân Thu nhã tập, với tác giả không chỉ là Nguyễn Xuân Sanh mà là cả một nhóm 6 người gồm đủ thơ, văn, nhạc, họa. Đó là Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Lương Ngọc. Một nhóm thơ, sau những nhóm phái đình đám như Tự lực Văn đoàn, Tân Dân, Hàn Thuyên...
Những năm đi sâu hơn vào nghề, khoảng đầu thập niên 1960 trở đi, gần như tất cả những nhóm phái, những tên tuổi trên đều lọt vào tầm ngắm của cả một nền văn học mới lấy tính Đảng làm linh hồn, lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm tiêu phấn đấu. Và đối tượng của sự phê phán - đó là toàn bộ trào lưu lãng mạn trước 1945, bắt đầu từ Tản Đà đến hết phong trào Thơ mới, chủ trương thoát ly hoặc quay lưng với hiện thực, đi tìm những chỗ trốn khác nhau. Những chỗ trốn nhưng sao mà trốn được, như chính xác nhận của tác giả Thi nhân Việt Nam: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu... Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.
Vậy là chỉ còn một nỗi buồn là hiện hữu. Là có thể trốn vào đấy. Mà nói buồn thì một xã hội như xã hội Việt Nam trước 1945 sao mà vui cho được!
Điều đáng lưu ý là trong số 45 tên tuổi được chọn trong Thi nhân Việt Nam không có Nguyễn Xuân Sanh dẫu ông đã từng có thơ từ rất sớm. Do vậy mà thiếu đi một nẻo trốn - sau này sẽ là tôn chỉ, là phương châm, là chủ trương của Xuân Thu nhã tập. Cả Nguyễn Xuân Sanh và Xuân Thu nhã tập đã không vào vùng phủ sóng của Thi nhân Việt Nam.
Tôi chú ý bài Tổng luận đặt đầu Thi nhân Việt Nam: Một thời đại trong thi ca, được viết xong vào tháng 11-1941. Và Thi nhân Việt Nam (1932 - 1941) được xuất bản năm 1942.
Trong khi phải đến giữa năm 1942, Xuân Thu nhã tập mới chính thức ra đời. Một thời dài, sau 1945 cho đến bây giờ, sự nhận diện văn học Việt Nam hiện đại trước 1945, ta quen nhìn trên sự hiện diện của 3 dòng: Lãng mạn, hiện thực và cách mạng. Một thời dài, văn học lãng mạn là đối tượng của sự phê phán, có lúc khá nặng nề: “Những câu thơ buồn nản hay vẩn vơ cũng đều là bạn đồng minh của giặc” (Hoài Thanh, Nói chuyện thơ kháng chiến - 1951). Phải đến thời Đổi mới thì trào lưu lãng mạn mới được nhìn nhận lại ở các giá trị tích cực của nó, trước nhu cầu giải phóng cá nhân (bên cạnh giải phóng đất nước và giải phóng giai cấp); và có công đầu trong sự đi tìm những phương thức biểu hiện mới, với những cách tân về ngôn ngữ, về thể loại - như thơ (Thơ mới) và tiểu thuyết (Tự lực văn đoàn).
Nhưng bên cạnh dòng lãng mạn vẫn còn những tìm tòi khác về hình thức, về kỹ xảo mà khái niệm “lãng mạn” không đủ sức ôm chứa - đó là siêu thực (suréalisme), là tượng trưng (symbolisme), là bí hiểm (hermétisme), là tắc tị... tất cả đều có nguồn cội ở phương Tây nửa sau thế kỷ XIX hoặc đầu thế kỷ XX... Và như vậy, có thể xem Xuân Thu nhã tập như là phần tiếp nối và hiếm muộn sau hơn 10 năm tồn tại của trào lưu lãng mạn, với các tuyên ngôn như sau:
“Dưới bóng Xuân Thu sẽ thực hiện: Trí thức. Sáng tạo. Đạo lý” (Trang đầu Xuân Thu nhã tập).
“Một niềm tin mộ, ta muốn tạo thành một tư tưởng theo cái nhịp điệu vĩnh viễn, thâm trầm” (Bài Quan niệm - mở đầu Xuân Thu nhã tập).
“Thơ - Tình yêu - Nẻo đạo; ba vòng nhịp điệu, lễ nghi bỗng tới cái - gì - không - xuống” (Thanh khí của Nguyễn Xuân Sanh).
Khó có thể nói gì khác, đó là những tuyên ngôn vừa cao đạo, vừa bí hiểm, khó hiểu, hoặc hiểu thế nào là tùy ở suy diễn của mỗi người; cũng tựa như mấy câu thơ tôi thuộc thời tuổi trẻ đã dẫn ở trên.
Do đến muộn nên sự kiện Xuân Thu nhã tập đã không vào tầm ngắm của Thi nhân Việt Nam, ngoài một bài thơ - bài Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ, nhận được nhiều lời khen của Hoài Thanh; về sau khi Xuân Thu nhã tập ra đời, bài này được Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc, như một dấu nối mỏng manh giữa hai sự kiện.
Tiếng nói chính thống của văn hóa - văn nghệ cách mạng thời 1930 - 1945, hoặc hẹp hơn thời 1941 - 1945 được thể hiện trong Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943 của Đảng Cộng sản Đông Dương, với 3 phương châm, hoặc 3 nguyên tắc: Dân tộc hóa, Đại chúng hóa, Khoa học hóa. Ba phương châm xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng cho các nhu cầu khẩn thiết của thực tiễn, nhằm động viên, kêu gọi mọi tầng lớp trí thức, mọi hoạt động văn hóa - nghệ thuật, văn chương - học thuật phải hướng tới mục tiêu cao nhất là giành độc lập cho dân tộc.
Và do vậy, đối tượng phê phán của Đề cương về văn hóa Việt Nam 1943 sẽ là:
“a. Tranh đấu về học thuật, tư tưởng, đánh tan những quan niệm sai lầm của triết học Âu, Á có ít nhiều ảnh hưởng tai hại ở ta: Triết học Khổng, Mạnh, Đêcacte (Descartes), Bécson (Bergson), Căng (Kant), Nitsơ (Nietzsche) vv..; làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng.
b. Tranh đấu về trường phái văn nghệ (chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng vvv... làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng”
Hơn 2 năm sau, trên Tiền phong số 2; 1-12-1945, tác giả “T.C” có tiếp bài Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa mới lúc này tiếp tục mở rộng sự phê phán “những quái thai trong văn học hợp pháp - công khai”: “Một nước mà nền kinh tế đã phụ thuộc vào người và mất chủ quyền chính trị thì khỏi sao văn hóa nhiễm tính chất nô dịch và phụ thuộc? Văn chương liếm gót giầy, văn chương “không đau mà rên”, văn chương bò sát đất, đầy rẫy trong nước. Văn nghệ hợp pháp hầu hết bội phản tinh thần độc lập dân tộc (...). Tính cách phản đại chúng trong văn hóa hợp pháp nước ta rất rõ. Xu hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, xu hướng “siêu thực”, xu hướng “lập dị” hay “nghệ thuật tắc tị” của nhóm Xuân Thu nhã tập gần đây đều là những quái thai của văn nghệ phản đại chúng”.
Vậy là áp sát vào Cách mạng tháng Tám, Xuân Thu nhã tập mới phải nhận sự phê phán gay gắt của tác giả Đề cương về văn hóa Việt Nam, bởi sự vi phạm các nguyên tắc vận động văn hóa của Đảng, trong đó trước hết là nguyên tắc Đại chúng hóa. Nhưng đó là nói chung. Còn riêng Nguyễn Xuân Sanh thì có khác. Trên tờ Thanh nghị, Nguyễn Xuân Sanh nhận được lời khen của Đinh Gia Trịnh: “Những trang tiểu luận trong tập Xuân Thu có thể coi là những công trình quý giá về tư tưởng và nghệ thuật... Quyển sách như đựng tinh hoa của một ít tâm hồn. Có người không ưa đọc nó (vì nó không hiến món văn chương dễ dãi), nhưng ai đã đọc nó cũng thấy yêu nó dẫu có phải e dè trước một vài táo bạo của tác giả”. Nhưng không phải Đinh Gia Trịnh không thấy những chỗ yếu của họ. Cái quy trình đi từ lãng mạn, với trước đó là cổ điển, qua tượng trưng, rồi kết thúc bằng bí hiểm từng diễn ra trong thi ca phương Tây, theo ông không hẳn là mô hình chung, và cầm chắc là không hợp với ta. Nhưng ông không nặng lời phê phán: “Có lẽ ở xứ ta một thí nghiệm như của hai ông Nguyễn Xuân Sanh và Phạm Văn Hạnh là sớm quá và không thể được nhiều độc giả tán thành”... “Bắt vào một căn nhà lại không cho ta chìa khóa mà thi sĩ cứ bảo lỗi tại ta!”.