Cách mạng tháng Tám thành công, Võ Quảng được giao phụ trách công tác chính quyền, và công tác pháp luật ở Đà Nẵng, rồi Liên khu Năm. Từ cuối 1945 đến 3-1947, ông giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến - hành chính thành phố Đà Nẵng. Từ 3-1947 đến 6-1948: Quyền Chủ tịch Ủy ban hành chính Đà Nẵng. Từ 1947 ông kiêm giữ chức Hội thẩm chính trị Tòa án quân sự miền Nam Việt Nam, và sau đó là Hội thẩm chính trị Tòa án quân sự Liên khu Năm.
Tập kết ra Bắc sau 1954, lẽ ra ông vẫn tiếp tục đảm nhiệm nhiều chức trách xã hội quan trọng, nhưng ông đã từ chối tất cả để đi theo nghề văn, lại là viết văn cho thiếu nhi. Giữa một bên là các chức trách xã hội đã quen, và một bên là nghề văn mới chỉ là sự hứa hẹn, ông đã không ngần ngại chọn con đường thứ hai, rồi chung thủy với nó cho đến suốt đời. Do những đóng góp đặc sắc cho văn học thiếu nhi, ông cũng đã từng tham gia một số công việc quản lý như là Tổng biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng, Giám đốc Xưởng phim hoạt hình, thành viên của Ủy ban thiếu niên - nhi đồng Trung ương, Ban văn học thiếu nhi của Bộ Văn hóa và Hội Nhà văn. Nhưng tất cả những vị trí đó ông đều không ngồi lâu. Bởi, ông đã chọn nghề viết; và viết là viết với tất cả tài năng và tâm huyết, trên cả hai lĩnh vực văn và thơ..., với những tên sách, tên truyện, tên bài gắn rất sâu vào tâm và trí bạn đọc thuộc nhiều thế hệ...
Truyện ngắn đầu tay của Võ Quảng có tên Cái lỗ cửa, viết năm 1955 là truyện ông viết từ chính những trải nghiệm của ông - những năm ông bị tù ở nhà lao Thừa Phủ. Một truyện vừa nghiêm chỉnh vừa vui hóm, rất hồn nhiên, tự nhiên mà gợi cho người đọc những ý tưởng rất sâu về những ứng xử và tâm thế con người gắn với hành trạng, kinh lịch và tính cách ở họ.
Từ truyện ngắn này đến trích truyện dài Kinh tuyến - Vỹ tuyến ra đời năm 1993 là một đường dẫn cho ta thấy bút danh Võ Quảng rất có thể sẽ là một cây truyện không xoàng, không mờ nhạt, nếu không nói là quan trọng, là đặc sắc của văn học hiện đại Việt Nam. Thế nhưng rồi Võ Quảng lại trở thành một người viết chỉ chuyên cho thiếu nhi, gần như không viết gì ngoài cho thiếu nhi. Trong khi những người viết cùng thế hệ, hoặc cùng ở vị trí khai sáng ông gồm những Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Phạm Hổ, Đoàn Giỏi... đều viết rộng ra nhiều khu vực khác và cho nhiều đối tượng khác.
Nói Võ Quảng, trước hết, là nói đến tác giả của Quê nội (1973) và Tảng sáng (1978) - hai tập trong cùng một bộ sách theo tôi thuộc loại hay nhất trong vườn văn thiếu nhi Việt Nam thế kỷ XX.
Với Quê nội và Tảng sáng, Võ Quảng dẫn ta vào sinh hoạt của một làng quê có tên là Hòa Phước, ven sông Thu Bồn, giữa những ngày sôi nổi trong và sau Tháng Tám - 1945. Đằm thắm trong một tình yêu, một nỗi niềm nhớ thương vừa vời vợi, vừa sâu thẳm, truyện của Võ Quảng dường như không chú ý, hay nói đúng hơn, không nhằm lạm dụng cái lạ, cái riêng trong dấu ấn của từng vùng. Hòa Phước là quê của tác giả, của một người con vùng quê Ngũ Hành Sơn, sông Thu Bồn, Cửa Hàn, Cửa Đại... nhưng cũng là của anh, của tôi, của tất cả. Nghe chuyện Hòa Phước của tác giả cũng như là nghe kể về quê hương của chính mình. Rõ ràng khi Võ Quảng viết “hết mình” trong một tình yêu “quê nội” thì cũng là khi Võ Quảng đã gặp tất cả chúng ta - những người hẳn ai cũng khao khát một tình yêu quê. Và tình yêu quê hương, như xưa nay vẫn vậy là một tình yêu không biên giới. Yêu quê mình và đồng thời yêu quê bạn. Yêu nơi mình sinh ra và yêu nơi mình ghé đến. Rồi chính do sự hòa nhập, sự đổi trao, sự bổ sung đó mà biết nâng tình yêu quê hương cụ thể lên tình yêu Tổ quốc.
Những trang trang viết của Võ Quảng chan chứa một tình yêu quê, và cùng là chan chứa một tình yêu Tổ quốc. Nếu nói có một hàm lượng trữ tình và một chất thơ nồng đậm ở Võ Quảng thì theo tôi chính là được khơi lên từ đó.
Hai nhân vật chính đi suốt Quê nội, Tảng sáng, tham gia vào tất cả các sự cố gắn nối các mảng khối hành động - đó là hai cậu bé có tên Cục và Cù Lao. Cả hai dường như có hao hao hình bóng tác giả. Giá trị lớn của bộ truyện mà Võ Quảng đã dồn hết mọi tâm lực, cùng kỷ niệm cả một thời trẻ sống hết mình với quê hương, khao khát đến với cách mạng, chính là ở sự sống của hai nhân vật này. Trong hình ảnh Cục và Cù Lao có sự hiện diện, sự hóa thân, sự sống động trở lại của tất cả tuổi thơ chúng ta, mỗi người có thể có một khuôn mặt riêng không giống nhau; nhưng ai lại chẳng có ít nhiều cái ngộ nghĩnh ấy, cái tinh nghịch ấy, cái ham say chơi đùa ấy, cái khôn ranh hoặc vụng dại ấy. Ai trong chúng ta lại chẳng có một tuổi thơ tuy thiếu nghèo hoặc no đủ về vật chất và tinh thần có khác nhau, nhưng đều có cùng một khao khát muốn làm việc tốt, muốn được khẳng định về nhân cách, muốn vươn lên những việc quá sức mình, muốn nhanh chóng thành người lớn, muốn được giao những việc quan trọng... Ở Cục và Cù Lao quả, Võ Quảng đã phát hiện được một cái gì thật nghiêm trang và hệ trọng, và cũng thật là điển hình cho cả một thế hệ trẻ thơ, trong cái vẻ riêng ngộ nghĩnh, không lặp lại của nó.
Từ sự sống của hai nhân vật trong cảnh quan một miền quê khó quên được ấy, tôi muốn xếp Quê nội và Tảng sáng của Võ Quảng vào trong một văn mạch với Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Gió đầu mùa và Hai đứa trẻ của Thạch Lam, Quê mẹ của Thanh Tịnh, Chân trời cũ của Hồ Dzếnh, Một đám cưới và Chuyện người hàng xóm của Nam Cao, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư, và Cỏ dại của Tô Hoài... Bộ sách viết về một thế hệ trẻ thơ có thêm một ngày khai sinh nữa là Cách mạng tháng Tám.
Rõ ràng với Quê nội, Tảng sáng, Võ Quảng đã bổ sung thêm vào danh mục bảo tàng văn chương hiện đại một cái tên riêng là Hòa Phước. Nếu không có Võ Quảng, hoặc nếu Võ Quảng không có Quê nội và Tảng sáng thì Hòa Phước sẽ lẫn vào trong trăm ngàn tên thôn làng khác ở bất cứ nơi đâu. Đã có một thôn Vỹ Dạ, một làng Thiện Vị trong thơ Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính; có một làng Đông Xá hoặc Vũ Đại trong văn Ngô Tất Tố, Nam Cao... Bây giờ có thêm một Hòa Phước, như một tên chung gợi bao tò mò và ngưỡng vọng cho lớp lớp các thế hệ trẻ, về một miền quê - quê của tuổi thơ, quê của cách mạng.