Nghị định 283 quy định hàng loạt mức xử phạt mới trong lĩnh vực đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong đó, hành vi ở lại nước ngoài sau khi hết thời hạn làm việc được xếp vào nhóm vi phạm có mức phạt cao.
Theo quy định, người lao động đã hết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề nhưng không trở về Việt Nam sẽ bị phạt 80-100 triệu đồng nếu tự ý ở lại và không thuộc trường hợp bị đe dọa, cưỡng ép. Trường hợp hành vi có dấu hiệu tội phạm và thuộc diện truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được xử lý theo quy định khác.
Không chỉ người lao động, những cá nhân đứng sau việc tổ chức, môi giới để lao động ở lại bất hợp pháp cũng bị xử lý. Người không có chức năng nhưng vẫn quảng cáo, tư vấn, tuyển chọn hoặc thu tiền của lao động để đưa họ đi làm việc ở nước ngoài; đồng thời có hành vi dụ dỗ, lôi kéo, cưỡng ép hoặc lừa gạt người Việt ở lại trái phép có thể bị phạt.
Việc làm giả giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng nằm trong nhóm hành vi bị xử phạt theo nghị định mới.
Đối với doanh nghiệp, một mức phạt cao được đặt ra cho chi nhánh tự ý đưa người lao động ra nước ngoài ngoài phạm vi nhiệm vụ hoặc thời gian được doanh nghiệp dịch vụ giao. Hành vi này có thể bị phạt 180-200 triệu đồng.
Ngoài tiền phạt, doanh nghiệp vi phạm còn phải hoàn trả khoản tiền đã thu trái quy định từ người lao động và thanh toán cả phần tiền lãi phát sinh theo quy định.

Nghị định cũng lưu ý trách nhiệm của người lao động ngay từ trước khi xuất cảnh. Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trực tiếp ký với chủ sử dụng lao động nước ngoài phải thực hiện đăng ký hợp đồng và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi thường trú. Nếu chưa có văn bản xác nhận của UBND cấp xã mà đã đi làm việc ở nước ngoài, người lao động có thể bị phạt 5-10 triệu đồng.
Các quy định mới được áp dụng trong bối cảnh lực lượng lao động Việt Nam ở nước ngoài có quy mô lớn. Khoảng 860.000 người Việt đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, tạo nguồn kiều hối ước khoảng 6,5-7 tỷ USD mỗi năm.
Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc là ba thị trường tiếp nhận đông lao động Việt Nam. Khoảng 85-90% số người xuất cảnh thuộc nhóm lao động phổ thông hoặc chỉ qua đào tạo ngắn hạn. Nhóm có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao chiếm khoảng 10-15%.
Lực lượng này chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, chế tạo, xây dựng, cơ khí, nông nghiệp, ngư nghiệp và giúp việc gia đình.
Với việc nâng mức xử phạt, quy định mới hướng tới kiểm soát chặt hơn tình trạng lao động hết hạn hợp đồng nhưng không trở về, đồng thời xử lý các hoạt động môi giới, tuyển dụng trái phép có thể dẫn đến tình trạng người Việt cư trú và làm việc bất hợp pháp ở nước ngoài.