Trong ký ức của bà Nguyễn Thị Thơm, người con gái lớn của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Xuân, cha mình trở về lần cuối vào một ngày rất bình thường. Khi ấy bà còn nhỏ, đang chơi pháo đất với người bạn hàng xóm tên Thụ. Trong lúc chơi, bà lấy của bạn một ít đất. Người bạn chạy về mách cha. Ông Ngọc chặt một cành tre có gai rồi đánh con gái. Đó là trận đòn cuối cùng ông dành cho con trước khi lên đường.

Nhiều năm đã qua, bà Thơm vẫn nhớ chuyện ấy. Có lẽ bởi đó là một kỷ niệm rất nhỏ trong cuộc đời một người con, nhưng lại trở thành ký ức cuối cùng về người cha trước ngày ông rời quê. Sau đó, ông Ngọc nói với người anh thứ hai: “Anh ơi, em ra đi chuyến này không chắc có thể trở về. Em giao lại hai giọt máu của em cho anh”. Bà Thơm nhớ nguyên câu nói ấy.
Liệt sĩ Nguyễn Xuân Ngọc sinh năm 1939 tại thôn Đại Phùng, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây cũ, nay là thôn Đại Phùng, xã Đan Phượng thành phố Hà Nội. Ông là con trai út trong gia đình có 5 anh chị em. Sau khi học xong phổ thông, ông tham gia công tác Đoàn, từng là Bí thư Chi đoàn thôn Đại Phùng, có nhiều thành tích và được kết nạp vào Đảng.

Tháng 2/1960, ông tình nguyện nhập ngũ. Hơn hai năm sau, đến tháng 4/1962, ông bị thương, sức khỏe yếu nên được xuất ngũ trở về địa phương. Nhưng chiến tranh chưa kết thúc. Tháng 4/1965, ông lại tái ngũ, rời bố mẹ già, người vợ trẻ và hai con nhỏ để vào Nam chiến đấu.
Lần trở lại quân ngũ này, với hơn hai năm đã phục vụ trong quân đội và là đảng viên, ông được phong quân hàm sĩ quan, giao nhiệm vụ chỉ huy, được biên chế vào Đại đội 2, Tiểu đoàn 12, Sư đoàn 2, chiến đấu tại chiến trường Liên khu 5.

Cựu chiến binh, Đại tá Nguyễn Văn Thái, cháu ruột liệt sĩ Nguyễn Xuân Ngọc kể rằng người chú của ông là con út trong gia đình, được cha mẹ chăm lo việc học hành. Khi còn trẻ, ông Ngọc thông minh, học giỏi, chữ viết đẹp và tích cực tham gia công tác Đoàn ở địa phương. Những năm tháng sau đó, gia đình chỉ còn biết tin ông đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam.
Ngày 26/5/1970, trong một cuộc hành quân chiến đấu tại khu vực Bàn Thùng, Quảng Nam, Chính trị viên Đại đội 2 Nguyễn Xuân Ngọc bị thương. Đồng đội đưa ông vào một nhà dân để cấp cứu nhưng vết thương quá nặng. Biết mình khó qua khỏi, ông dặn lại những người lính bên cạnh thông tin về quê quán và gia đình.

Trong số những người nghe lời dặn ấy có hai chiến sĩ là ông Toàn và ông Tinh, quê Thái Bình. Sau khi ông Ngọc hy sinh, ông Toàn ở lại mai táng đồng đội tại khu ruộng Ba Gốc, dưới chân núi Bàn Thùng. Thi hài được quấn trong một chiếc võng dù. Tên và thông tin của người đã hy sinh được ghi lại, cho vào một chiếc lọ rồi đặt trong phần mộ. Việc mai táng diễn ra giữa lúc máy bay Mỹ liên tục càn quét, ném bom. Sức ép của bom làm thi hài bị hất lên bờ. Ông Toàn sau đó tiếp tục mai táng đồng đội tại khu vực này.
Nhiều năm sau, ông Toàn và ông Tinh tìm về gia đình. Những lời kể của họ mở ra một đầu mối mà gia đình đã chờ đợi suốt nhiều thập niên.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Phú, cháu ruột liệt sĩ Nguyễn Xuân Ngọc, cho biết hơn chục năm trước, ông cùng bà Thơm đã tìm đến Thái Bình để gặp những người đồng đội cũ của chú. Từ câu chuyện của họ, gia đình biết nơi an táng ban đầu của liệt sĩ là khu vực chân núi Bàn Thùng. Gia đình nhiều lần vào Đà Nẵng (Quảng Nam cũ), tìm hỏi người dân địa phương. Qua những thông tin thu thập được, gia đình biết các phần mộ liệt sĩ ở khu vực này đã được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ Quế Phong.

Đó là một bước quan trọng trong hành trình hơn nửa thế kỷ của gia đình. Liệt sĩ Nguyễn Xuân Ngọc không còn nằm tại nơi an táng ban đầu dưới chân núi Bàn Thùng. Phần mộ của ông đã được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ Quế Phong. Từ những thông tin của đồng đội và quá trình lần tìm, gia đình xác định được phần mộ của ông tại nghĩa trang này. Sau đó, hài cốt liệt sĩ Nguyễn Xuân Ngọc được đưa từ Nghĩa trang liệt sĩ Quế Phong về quê nhà Đan Phượng.

Trong quá trình đưa hài cốt về quê, gia đình còn nhìn thấy hai chiếc lọ nhỏ có ghi chữ “Ngọc”. Một chiếc có dòng chữ “Ngọc, 1976”. Theo lời bà Thơm, phần mộ được chuyển về nghĩa trang từ năm 1976. Một chiếc lọ khác còn có tờ giấy nhưng chữ đã phai, gia đình đã chụp lại những gì còn lưu giữ được.
Những chiếc lọ nhỏ ấy là những dấu tích giản dị nhưng có ý nghĩa với gia đình. Hơn nửa thế kỷ trước, một người lính ngã xuống giữa chiến trường. Nhiều năm sau, tên ông vẫn còn lưu lại trên một mảnh giấy, một chiếc lọ, trong hồ sơ của một nghĩa trang và trong ký ức của những người từng gặp ông.

Bà Thơm nói mình rất mừng khi được đón cha trở về. Bà cảm ơn các cấp chính quyền, họ hàng và những người đã cùng gia đình thực hiện công việc ấy. Với bà, niềm vui không chỉ là được nhìn thấy tên cha một lần nữa mà còn là biết rằng người cha đã nằm lại nơi xa nay đã có thể trở về quê hương. Đại tá Nguyễn Văn Thái cũng mang theo một nỗi trăn trở khác. Nhiều năm qua, ông luôn đau đáu về người chú đã hy sinh từ khi mình còn trẻ. Đến ngày hài cốt chú được đưa về, sự chờ đợi kéo dài hơn nửa thế kỷ mới khép lại.
Câu chuyện của liệt sĩ Nguyễn Xuân Ngọc vì thế bắt đầu từ một gia đình ở Đại Phùng, đi qua những năm tháng chiến tranh, một trận đánh ở Bàn Thùng, lời dặn của người lính trước lúc hy sinh, lời kể của những người đồng đội và một phần mộ được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ Quế Phong. Hành trình ấy kéo dài hơn 56 năm trước khi người con của Đan Phượng trở lại quê nhà.

Là đơn vị đóng quân trên địa bàn xã Đan Phương và tham gia thực hiện nhiệm vụ phối hợp cùng chính quyền địa phương đón hài cốt liệt sĩ Nguyễn Xuân Ngọc về quê nhà. Trung tá Lê Thanh Hải, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Trung đoàn 260, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không - Không quân nói rằng việc đón nhận và tri ân các anh hùng liệt sĩ không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là trách nhiệm, nghĩa tình của thế hệ hôm nay đối với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Theo ông, những câu chuyện về sự hy sinh của các thế hệ đi trước cũng là bài học trực quan, sinh động về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.

Với bà Thơm, ký ức về cha vẫn bắt đầu từ một trận đòn của tuổi thơ, từ cành tre có gai và trò chơi pháo đất năm nào nhưng phía sau ký ức ấy là hơn nửa thế kỷ vắng bóng cha. Giờ đây, ông đã trở lại quê hương Đan Phượng. Những người con của ông đã trưởng thành, những người đồng đội năm xưa naycũng đã ít. Chỉ có lời dặn “hai giọt máu” vẫn vẹn nguyên trong ký ức của người con gái.

Sau hơn 56 năm đằng đẳng, hành trình ấy cuối cùng cũng có một điểm dừng: người cha trở về với quê hương, nơi ông đã sinh ra và nơi gia đình đã chờ đợi ông suốt những năm tháng dài.