Tháo gỡ điểm nghẽn để giáo dục chuyển biến thực chất

Thiếu giáo viên, bất cập trong tuyển sinh và khoảng cách giữa đào tạo với việc làm đang đặt ra yêu cầu đổi mới quản trị giáo dục. Tháo gỡ đồng bộ những điểm nghẽn, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách là điều kiện để cải thiện chất lượng dạy và học, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đất nước.

Giáo dục Việt Nam đang bước vào một giai đoạn đổi mới mạnh mẽ. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị đặt yêu cầu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Luật Nhà giáo đã có hiệu lực; chính sách miễn học phí được mở rộng; chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tác động ngày càng sâu đến phương thức dạy và học.

Đến năm 2030, Nghị quyết 71 đặt mục tiêu ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành trung học phổ thông và tương đương; 50% người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông; 24% người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên; ít nhất 35% người học thuộc các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ.

Những mục tiêu đó cho thấy giáo dục không chỉ là công việc của nhà trường mà trực tiếp liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực và năng lực phát triển đất nước. Nhưng từ một chủ trương đúng đến một lớp học tốt còn là một quãng đường dài. Vấn đề hiện nay không chỉ là tiếp tục bổ sung chính sách, mà quan trọng hơn là nhận diện đúng những điểm nghẽn đang làm giảm hiệu quả của hệ thống để tập trung tháo gỡ.

Từ chính sách đến thực thi: Phải làm thông cả chuỗi

Giáo dục là một hệ thống lớn. Một chính sách phải đi qua nhiều tầng quản lý trước khi đến giáo viên và học sinh. Vì vậy, chất lượng văn bản mới là điều kiện cần; năng lực tổ chức thực hiện quyết định chính sách có thực sự đi vào cuộc sống hay không.

Câu chuyện sách giáo khoa đầu năm học 2026–2027 là một ví dụ. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổng nhu cầu sách giáo khoa năm học này khoảng 245,94 triệu bản. Khi năm học đã bắt đầu, tình trạng thiếu sách vẫn xảy ra cục bộ. Sau nhiều biện pháp khắc phục, đến ngày 19/9 số sách còn thiếu là 908.689 bản, tương đương khoảng 0,37% tổng nhu cầu; 99,63% nhu cầu đã được đáp ứng. Bộ yêu cầu ưu tiên những địa phương còn thiếu nhiều và cung cấp sách điện tử miễn phí trong thời gian chờ sách in.

01-sach-giao-khoa-1790237917.jpg
Bảo đảm sách giáo khoa đến đủ, đúng thời điểm là yêu cầu thiết yếu để việc dạy và học không bị gián đoạn. Nguồn: Báo điện tử Chính phủ

Đây là sự cải thiện đáng kể so với những ngày trước đó. Nhưng đến ngày 23/9, yêu cầu của Chính phủ vẫn là phải giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu sách giáo khoa. Điều đáng suy nghĩ vì thế không chỉ là còn thiếu bao nhiêu cuốn sách. Tại sao một nhu cầu về cơ bản có thể dự báo trước lại chưa được đáp ứng đầy đủ khi năm học đã bắt đầu?

Đằng sau một cuốn sách đến tay học sinh là cả một chuỗi:

Dự báo nhu cầu – dữ liệu – đặt hàng – sản xuất – tồn kho – điều phối – vận chuyển – phân phối. Chỉ một khâu chậm hoặc dữ liệu chưa sát cũng ảnh hưởng cả chuỗi. Chính Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định hướng lâu dài là quản lý nhu cầu bằng dữ liệu thống nhất, kết nối nhu cầu của nhà trường với sản xuất, tồn kho, vận chuyển và phân phối, đồng thời xây dựng cơ chế dự phòng.

Như vậy, điểm nghẽn đầu tiên cần tháo chính là khoảng cách giữa chính sách và thực thi: Chuyển từ xử lý sự việc sau khi phát sinh sang dự báo và quản trị bằng dữ liệu.

Thiếu giáo viên: Từ bài toán biên chế đến quản trị nguồn nhân lực

Đội ngũ nhà giáo là một điểm nghẽn lớn khác. Nhưng những con số hiện có cho thấy không thể giải bài toán này chỉ bằng việc tăng tổng biên chế.

Theo số liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố, toàn ngành thiếu khoảng 104.000 giáo viên so với định mức; sau khi sắp xếp lại trường lớp theo quy mô học sinh, nhu cầu thực tế cần bổ sung cho năm học 2026–2027 còn khoảng 43.267 chỉ tiêu. Trong khi đó, cả nước vẫn còn 44.700 chỉ tiêu biên chế đã giao nhưng chưa tuyển và có 48.034 giáo viên hợp đồng đang làm việc tại các cơ sở công lập.

Các nguồn chuyên môn của Chính phủ cũng cho biết nhu cầu bổ sung sau sắp xếp giảm từ 104.516 xuống 43.267 giáo viên, nhưng tình trạng thiếu vẫn mang tính cục bộ theo môn học, cấp học và địa bàn; có nơi tổng biên chế không thiếu nhiều nhưng vẫn thiếu giáo viên tiếng Anh, tin học, nghệ thuật hoặc mầm non ở đúng nơi học sinh cần.

Những con số trên không thể cộng cơ học với nhau. Chúng phản ánh những trạng thái nhân lực khác nhau. Nhưng đặt cạnh nhau, chúng cho thấy “thiếu giáo viên” không đơn giản chỉ là thiếu tổng số người.

Điểm nghẽn nằm ở cả chuỗi: Định mức – biên chế – tuyển dụng – cơ cấu môn học – phân bố địa bàn – điều động – đãi ngộ – giữ chân – sử dụng.

Nếu có biên chế nhưng không tuyển được người, trường vẫn thiếu giáo viên. Nếu tuyển được nhưng không giữ được người ở địa bàn khó khăn, tình trạng thiếu sẽ tái diễn. Nếu tổng số người cơ bản đáp ứng nhưng sai cơ cấu môn học hoặc địa bàn, lớp học vẫn thiếu người đứng lớp.

Chính sách đãi ngộ đã có những thay đổi đáng kể. Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20% đến 80%, tùy cấp học, tính chất công việc và địa bàn; mức cao được dành cho một số nhóm nhà giáo ở vùng đặc biệt khó khăn, trường chuyên biệt, trường dân tộc nội trú.

Nhưng tiền lương, phụ cấp mới là một phần của lời giải. Cần tiến tới xây dựng bản đồ cung – cầu giáo viên theo môn học, cấp học và địa bàn, dự báo theo biến động dân số học đường; sử dụng linh hoạt cơ chế dạy liên trường; giảm công việc ngoài chuyên môn và có chính sách đủ sức giữ người tại vùng khó khăn.

02-giao-vien-va-hoc-sinh-1790237921.jpg
Chăm lo điều kiện làm việc và đãi ngộ góp phần giúp giáo viên yên tâm gắn bó với nghề. Ảnh minh họa. Nguồn: Báo điện tử Chính phủ ↵

Mục tiêu cuối cùng không phải tổng biên chế đẹp trên báo cáo mà là: Ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên phù hợp để dạy học.

Tuyển sinh: Đơn giản hơn nhưng phải ổn định và công bằng hơn

Những năm gần đây, nhiều phương thức tuyển sinh đại học tạo thêm cơ hội lựa chọn nhưng cũng khiến hệ thống phức tạp, học sinh phải chuẩn bị đồng thời cho nhiều con đường xét tuyển.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng dự thảo theo hướng giảm và chuẩn hóa phương thức. Theo dự thảo, năm 2027 dự kiến áp dụng ba phương thức và từ năm 2028 giảm xuống một phương thức đăng ký xét tuyển đối với từng ngành, từng chương trình đào tạo. Mục tiêu được Bộ xác định là đưa thí sinh dự tuyển cùng ngành, cùng chương trình về một chuẩn đánh giá, bảo đảm công bằng nhưng không thu hẹp cơ hội của thí sinh hay quyền tự chủ của trường. Đây vẫn là dự thảo, chưa phải quy định chính thức.

03-tu-van-tuyen-sinh-1790237929.jpg
Học sinh, phụ huynh tìm hiểu thông tin tại ngày hội tư vấn tuyển sinh. Ảnh: VGP/Thu Trang – Báo điện tử Chính Phủ

Điều cần bàn không phải càng nhiều phương thức càng tốt hay càng ít càng tốt. Câu hỏi quan trọng hơn là: Phương thức tuyển sinh có lựa chọn được đúng người phù hợp với ngành đào tạo hay không?

Việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ, thành tích học sinh giỏi hay các tiêu chí bổ sung cũng cần được đặt trên nguyên tắc đó. Nếu một năng lực thực sự cần thiết đối với ngành học thì có cơ sở đưa vào tiêu chí tuyển sinh; nếu ít liên quan đến yêu cầu chương trình nhưng lại tạo lợi thế điểm số lớn, nguy cơ bất bình đẳng cần được xem xét.

Một hệ thống tuyển sinh hợp lý phải đồng thời đạt bốn yêu cầu: Đơn giản – ổn định – công bằng – lựa chọn đúng năng lực.

Đặc biệt, thay đổi chính sách phải có khả năng dự báo. Một học sinh bắt đầu lớp 10 cần hình dung tương đối rõ ba năm sau mình sẽ được đánh giá theo những nguyên tắc cơ bản nào. Những thay đổi lớn cần được công bố đủ sớm, đánh giá tác động và có lộ trình chuyển tiếp hợp lý.

Chuẩn hóa cũng không đồng nghĩa với đồng nhất. Quản trị tuyển sinh phải tìm được điểm cân bằng giữa chuẩn chung – công bằng đối với thí sinh – quyền tự chủ và đặc thù đào tạo của từng trường.

Đào tạo phải nối được với việc làm và nhu cầu phát triển

Nếu tuyển sinh là cửa vào thì năng lực của người học sau đào tạo mới là một trong những đầu ra quan trọng nhất. Theo Cơ quan Thống kê quốc gia, sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,7%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15–24 tuổi là 8,77%; riêng quý II có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và cũng không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 10% tổng số thanh niên.

Không thể từ những số liệu này suy ra giáo dục là nguyên nhân trực tiếp của thất nghiệp. Việc làm chịu tác động của tăng trưởng, đầu tư, cơ cấu kinh tế và nhiều yếu tố khác. Nhưng chúng đặt ra một câu hỏi cần được trả lời: giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và thị trường lao động đang kết nối với nhau hiệu quả đến đâu?

Nghị quyết 71 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50% người trong độ tuổi học các trình độ sau trung học phổ thông; 24% người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên; ít nhất 35% người học thuộc các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ.

Tăng quy mô là cần thiết nhưng chưa đủ. Với đại học, cần chuyển mạnh từ câu hỏi “tuyển được bao nhiêu?” sang “người tốt nghiệp làm được gì?”. Dữ liệu việc làm sau tốt nghiệp phải minh bạch, thống nhất và có khả năng kiểm chứng.

Với giáo dục nghề nghiệp, phân luồng không thể chỉ đo bằng số học sinh vào trường nghề. Phải theo dõi cả chuỗi: Học nghề – có kỹ năng – có việc làm – có thu nhập – có khả năng học tiếp.

04-thuc-hanh-nghe-1790237936.jpg
Sinh viên Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội trong giờ thực hành. Ảnh: VGP/Văn Hiền – Báo điện tử Chính phủ

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và tự động hóa thay đổi nhanh cơ cấu nghề nghiệp, người học còn phải có khả năng tự học, học lại, thích ứng và chuyển đổi nghề nghiệp. Vì vậy cần kết nối dữ liệu giáo dục với thị trường lao động và tăng sự tham gia thực chất của doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, đào tạo và đánh giá kỹ năng.

Đã đến lúc câu hỏi “vào đại học bằng cách nào?” cần được cân bằng bằng câu hỏi quan trọng không kém: “ra khỏi nhà trường, người học làm được gì?”

Quản trị giáo dục phải chuyển từ đầu vào sang kết quả

Dạy thêm, học thêm; bạo lực học đường; trí tuệ nhân tạo; bán trú; tự chủ đại học; áp lực hành chính đối với giáo viên tưởng là những vấn đề khác nhau, nhưng ở tầng sâu đều gặp nhau ở một câu hỏi: Hệ thống đang đo cái gì và chịu trách nhiệm về kết quả nào?

Với trí tuệ nhân tạo, vấn đề không phải đơn giản là có cho học sinh sử dụng hay không, mà là sử dụng để hỗ trợ tư duy hay thay thế tư duy. Giáo dục phải giúp người học biết khai thác công nghệ nhưng vẫn giữ năng lực suy nghĩ độc lập, kiểm chứng thông tin và sáng tạo.

05-cong-nghe-trong-lop-hoc-1790237948.jpg
Giáo viên hướng dẫn học sinh trải nghiệm công nghệ thực tế ảo trong học tập. Nguồn: Báo điện tử Chính phủ

Với dạy thêm, học thêm, quản lý hoạt động dạy thêm là cần thiết nhưng chưa đủ. Cần nhìn vào cả áp lực thi cử, tuyển sinh, chất lượng giờ học chính khóa, sĩ số lớp và kỳ vọng của gia đình.

Với bạo lực học đường, xử lý sau sự việc phải đi cùng phát hiện sớm – can thiệp sớm – phối hợp gia đình, nhà trường và xã hội – phòng ngừa tái diễn.

Với đại học, tự chủ không thể đồng nhất với tự chủ tài chính. Tự chủ phải đi cùng chất lượng đào tạo, nghiên cứu, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình.

Điều cần thay đổi là cách đo kết quả. Thay vì chủ yếu hỏi đã ban hành bao nhiêu văn bản, tổ chức bao nhiêu hoạt động, cần hỏi: Giáo viên dành được bao nhiêu thời gian cho chuyên môn; trường học có an toàn hơn không; chi phí thực tế của gia đình thay đổi thế nào; người học tốt nghiệp có năng lực gì và tìm được việc làm ra sao?

Nói ngắn gọn: Một chính sách giáo dục mới đã làm thay đổi điều gì trong một ngày đi học của học sinh và một ngày làm việc của giáo viên?

Tháo điểm nghẽn để tạo chuyển biến thực chất

Những điểm nghẽn của giáo dục không tồn tại riêng rẽ. Thiếu giáo viên liên quan đến tuyển dụng và đãi ngộ; học thêm liên quan đến thi cử và chất lượng học chính khóa; phân luồng liên quan đến trường nghề và thị trường lao động; tự chủ đại học liên quan đến nguồn lực nhưng đồng thời gắn với chất lượng và trách nhiệm giải trình.

picture1-1790238020.png
Chuyển biến thực chất của giáo dục cần được thể hiện ở chất lượng học tập và sự phát triển năng lực của học sinh. Ảnh: VGP/T.Trang – Báo điện tử Chính phủ

Vì vậy, cần tập trung vào năm chuyển đổi:

Từ ban hành chính sách sang tổ chức thực hiện; từ quản lý biên chế sang quản trị nguồn nhân lực; từ chạy theo nhiều phương thức tuyển sinh sang đánh giá đúng năng lực; từ chú trọng quy mô đào tạo sang chất lượng đầu ra; từ quản lý đầu vào sang quản trị bằng dữ liệu, kết quả và trách nhiệm giải trình.

Cùng với đó cần hình thành một bộ chỉ số đủ rõ để xã hội theo dõi hằng năm: Mức độ đủ giáo viên theo môn và địa bàn; tỷ lệ tuyển được trên số chỉ tiêu cần tuyển; việc làm sau đào tạo; hiệu quả phân luồng; mức độ an toàn trường học; thời gian giáo viên dành cho chuyên môn; chi phí thực tế của gia đình cho giáo dục.

Tháo gỡ điểm nghẽn giáo dục, xét đến cùng, không phải xử lý riêng lẻ từng sự việc mà là làm thông suốt cả hệ thống từ chính sách đến thực thi, từ nguồn lực đến nhà trường, từ người thầy đến người học, từ đào tạo đến nhu cầu phát triển của đất nước.

Và thước đo thuyết phục nhất của đổi mới không phải có thêm bao nhiêu văn bản hay bao nhiêu phương án, mà là người thầy có điều kiện dạy tốt hơn, người học được học tốt hơn và đất nước có được nguồn nhân lực tốt hơn.

Trung tướng, PGS.TS Đồng Đại Lộc