Chủ tịch Quốc hội thứ hai - Danh sĩ Bùi Bằng Đoàn

Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, cụ Bùi Bằng Đoàn trúng cử đại biểu Quốc hội. Sau đó, cụ được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội - bây giờ là Chủ tịch Quốc hội. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Cụ đã lên Việt Bắc, sát cánh cùng Hồ Chủ Tịch trong những thời điểm khó khăn nhất...Cuộc đời của Cụ Bùi Bằng Đoàn là một tấm gương tận tụy, vì nước vì dân...

Cụ Bùi Bằng Đoàn sinh ngày 17/8/1889 (Kỷ Sửu) trong một gia đình nho học tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (cũ). Cụ từng đỗ Cử nhân dưới triều vua Thành Thái, gặp thời Tây học bắt đầu thịnh hành, Cụ phải khai thêm 3 tuổi cho đủ để vào học truờng Hậu bổ. Khoa thi năm Bính Ngọ - 1906, cả ba anh em họ Bùi đều đỗ Tú tài, Cử nhân nên được mệnh danh là “Hà Đông tam bằng”. Đến năm 1933, cụ đã giữ chức Nam triều Tư pháp Bộ Thượng thư, nổi tiếng là ông quan đức độ, thanh liêm, chính trực, chăm dân. Trên công đường ở những nơi cụ làm quan, đều có treo một bảng thông báo “không nhận quà biếu”.

mr-bui-bang-doan-1770074718.jpg
Chủ tịch Quốc hội thứ hai - Danh sĩ Bùi Bằng Đoàn.

Bùi Bằng Đoàn thông thạo cả hai ngoại ngữ là tiếng Pháp và tiếng Hán nên con đường quan lộ khá hanh thông. Năm 1911, cụ được bổ làm Tri huyện, sau đó làm Tri phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định (cũ); Án sát tỉnh Bắc Ninh; Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình. Năm 1925, khi đang làm Tri phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (cũ), cụ được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, Bùi Bằng Đoàn đã thông dịch rõ ràng, trung thực những lời nói, lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó tòa án đã không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức “an trí ở Huế”.

Năm 1928, Chính phủ Nam triều đã cử Án sát Bùi Bằng Đoàn vào Nam Bộ thanh tra các đồn điền cao su của Pháp. Ông đã tiến hành thanh tra thấu đáo, viết một bản báo cáo dày 100 trang bằng tiếng Pháp, nêu lên những điều vô lý trong chính sách đối với phu đồn điền và được nhà đương cục chấp nhận, giảm bớt những quy chế hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su. Đầu năm 1933, Bùi Bằng Đoàn được bổ làm Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, rồi làm Thượng thư Bộ Hình, hàm Thái tử Thiếu bảo. Trong 12 năm ở Kinh đô Huế, ông trông nom việc xử kiện của tất cả các tỉnh Trung Kỳ, chỉ đạo việc soạn thảo các luật cho Trung Kỳ bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và dịch ra chữ Hán.

Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Bùi Bằng Đoàn cáo quan về quê, nhưng được Chính phủ Nam triều giao giữ chức Chánh Tòa Thượng thẩm Hà Nội. Ở thời điểm chuẩn bị Cách mạng Tháng Tám, tổ chức Việt Minh đã tiếp xúc và mời ông làm Hội trưởng Hội bảo vệ tù chính trị.

Ngày 26/8/1945, tại phiên họp của Thường vụ Trung ương Đảng tại 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quyết sách: thành lập ngay một Chính phủ lâm thời gồm những bậc danh tiếng tiêu biểu đủ các giới đồng bào trong toàn quốc. Ngày 27/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc Giải phóng Việt Nam do Quốc dân Đại hội (Tân Trào) bầu ra được cải tổ thành Chính phủ cách mạng lâm thời, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng yêu nước và những nhân sĩ tiến bộ.

68ee08be08dcb36fd59d5f1c-1770074964.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem bản đồ với cụ Bùi Bằng Đoàn, đ/c Vũ Đình Phụng và Linh mục Phạm Bá Tựu tại cuộc họp Chính phủ năm 1948 ở Việt Bắc. Ảnh Tư liệu.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 14/11/1945, trong cuộc họp của Hội đồng Chính phủ (HĐCP), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị cử một Ban cố vấn 10 vị giúp Chủ tịch nước, 6 vị đầu tiên gồm: Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Luyện, Lê Hữu Từ, Ngô Tử Hạ, Bùi Kỷ, Lê Tại và còn 4 vị nữa sẽ cử sau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 2 lần viết thư mời Bùi Bằng Đoàn tham gia chính quyền cách mạng. Ngày 17/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư mời ông tham gia Ban cố vấn Chủ tịch nước, thành viên Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết đất nước. Người viết: “Thưa Ngài! Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú. Vậy nên, tôi mời Ngài làm Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà dân tộc. Cảm ơn và chúc Ngài mạnh khỏe. Kính thư. Hồ Chí Minh”.

Nhận lá thư này, Bùi Bằng Đoàn viện lý do bản thân vốn là quan lại cấp cao của Nam triều quá lâu, không hiểu gì về thời thế mới, sợ không đóng góp được gì cho cách mạng nên không dám nhận lời, xin được miễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết tiếp lá thư thứ hai gửi Bùi Bằng Đoàn, lần này trong thư Người đã dẫn một câu thơ cổ có 7 chữ: “Thu thủy tàn hà thính vũ thanh”.

Khi Bùi Bằng Đoàn nhận phong thư mở ra xem, ông trầm ngâm, nở nụ cười rồi nói nhấn từng chữ với người thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngài về thưa lại với Hồ Chủ tịch, tôi xin ứng mệnh ngay lời tâm tri của Người: Thính vũ thanh cảm ứng nghinh thu”2. Bùi Bằng Đoàn đã hiểu và nhận lời vì ra gánh vác việc chung không phải để làm quan, mà để giúp thêm ý kiến cho Chính phủ trong sự nghiệp hưng lợi, trừ hại cho nước nhà.

2815-bui-638552756882778810-hasthumb-1770074759.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chủ tịch Hồ Chí Minh và danh sĩ Bùi Bằng Đoàn. Ảnh Tư liệu.

Ngày 22/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử Vũ Đình Huỳnh về Hà Đông đưa Bùi Bằng Đoàn đến gặp Người ở nhà số 8 phố Vua Lê (nay là phố Lê Thái Tổ). Người đã đợi sẵn ở cửa phòng khách để đưa vị cựu đại thần đi dạo dưới hàng cây trong vườn, trò chuyện tâm đắc như đôi bạn cố tri lâu ngày tái ngộ.

Rất nhiều nhân sĩ, trí thức lúc đó say sưa luận giải về ý nghĩa, tuy đã tạm đoán được ý, chứ chưa hẳn đã hiểu hết nghĩa, của câu thơ cổ 7 chữ: “Thu thuỷ tàn hà thính vũ thanh” (ý là: dòng nước thu, bông sen tàn, nghe tiếng mưa rơi). Cuối cùng, qua các buổi đàm luận về văn học nghệ thuật, các nhà bình luận văn chương tạm dịch nôm na ý của câu thơ là: Sóng nước mùa thu (cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công); Nghe tiếng mưa (đón cuộc cách mạng nổ ra); Bông sen tàn nhờ mưa thu lại nở. Tất cả đều là hình ảnh tượng trưng, nhưng ý nghĩa sâu xa và chân tình của vị Chủ tịch nước gửi vào đó đã làm vị cựu Thượng thư Nam triều vui vẻ đứng ra cùng góp sức phục vụ cách mạng.

Ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 80/SL cử các ông Bùi Bằng Đoàn và Cù Huy Cận vào Ban Thanh tra đặc biệt. Bùi Bằng Đoàn được giao giữ chức Trưởng ban với quyền hạn và nhiệm vụ rất lớn là giám sát công việc và nhân viên của các UBND và các cơ quan Chính phủ (như chức Tổng thanh tra Chính phủ hiện nay).

Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, Bùi Bằng Đoàn được bầu làm đại biểu Quốc hội, ngày 2/3/1946, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội diễn ra chỉ 4 giờ, Bùi Bằng Đoàn được cử làm Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 8/11/1946, tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội, Bùi Bằng Đoàn được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội thay Nguyễn Văn Tố.

Nhằm mục đích đoàn kết tất cả các lực lượng và đồng bào yêu nước Việt Nam không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, dân tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường, một Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam - gọi tắt là Hội Liên Việt - tổ chức Liên hiệp các tổ chức chính trị và xã hội với mục đích đoàn kết tất cả các lực lượng và đồng bào yêu nước Việt Nam không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, dân tộc gồm 27 người, trong đó có đại biểu của Việt Minh như: Hồ Chí Minh, Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận,...; đại biểu các giới như: Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, nhà tư sản theo đạo Thiên chúa Ngô Tử Hạ, các học giả Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Luyện, Phan Anh, cựu Thượng thư Bùi Bằng Đoàn,...

Ngày 29/5/1946, Hội Liên Việt chính thức tuyên bố thành lập tại Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Hội trưởng danh dự, Huỳnh Thúc Kháng là Hội trưởng và Tôn Đức Thắng là Phó Hội trưởng.

Tháng 12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội di chuyển lên chiến khu (ATK) Việt Bắc. Ngày 31/12/1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 5/SL thành lập Ủy ban Tản cư và di cư Trung ương, ủy ban tản cư của các tỉnh, phủ, huyện. Ngày 22/1/1947, Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 8/SL cử các thành viên Ủy ban Tản cư và di cư, gồm 11 thành viên, Bùi Bằng Đoàn được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban này.

Trong tình hình thời chiến, các cuộc họp HĐCP vẫn diễn ra  thường xuyên, lưu động và bí mật, nhưng mỗi lần họp đều là những dịp để các thành viên HĐCP gặp gỡ, sinh hoạt văn hoá rất vui vẻ, lạc quan. Ngày 2/2/1947, sau khi kết thúc buổi họp HĐCP đầu năm, vì đang còn hơi hướng Tết nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị mọi người ai có câu đối thì đọc, lấy ý từ hai câu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi/Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Bùi Bằng Đoàn đứng lên giới thiệu Bộ trưởng Phan Anh đọc hai vế đối. Mọi người vỗ tay tán thưởng.

images1557115-t6-1770075230.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Bùi Bằng Đoàn (đứng bên phải Chủ tịch Hồ Chí Minh) cùng các vị trong Ban Thường trực Quốc hội và một số Bộ trưởng, Thứ trưởng trong Hội đồng Chính phủ. Ảnh Tư liệu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bèn ứng khẩu, lẩy một câu Kiều: “Rằng hay quả thật là hay; Khẩn trương kháng chiến, hẹn ngày bình sau”. Tôn Đức Thắng ghé tai nói nhỏ với Bùi Bằng Đoàn: “Ông Cụ thánh thật. Cụ sống xa đất nước những 30 năm mà hầu như Cụ không phai nhạt một thứ gì là của của Việt Nam”. Bùi Bằng Đoàn cười mãn ý với Tôn Đức Thắng: “Cụ Hồ thuộc về thiên nhân, tuệ giác”.

Mấy tuần đầu kháng chiến, cơ quan của Ban Thường trực Quốc hội, Ủy ban Mặt trận cùng ở một địa điểm còn Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Sài Sơn. Khi chiến sự lan rộng và ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh di chuyển đến làng Xảo, châu Tự Do, còn Ban Thường trực Quốc hội, Bùi Bằng Đoàn và các vị Phó ban ở làng Thanh La. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lo lắng cho các bậc cao tuổi lại vào chốn rừng sâu kháng chiến gian khổ nên yêu cầu Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, báo cáo cụ thể nơi ăn, ở của các vị, bố trí cho ở cùng nhà dân cho ấm cúng.

Ngày 19/4/1947, HĐCP họp ở Mỏ Giác, châu Tự Do. Chủ tịch Hồ Chí Minh thoáng thấy Bùi Bằng Đoàn vẻ mệt mỏi chống tay lên gối, Người hỏi thăm ngay: “Thưa Cụ, Cụ có làm sao không?”. “Xin Chủ tịch bình tâm. Cái đau này đã thành đau kinh niên, do một lần tôi bị ngã”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho gọi bác sĩ tới khám bệnh, sau đó Người vẫn không yên tâm nên thường xuyên cử bác sĩ tới thăm bệnh cho Bùi Bằng Đoàn.

Ngày 13/4/1955, lúc 8h30 sáng, tại Viện quân y 108, Chủ tịch Hồ Chí Minh đau buồn cúi đầu mặc niệm trước linh cữu vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 14/4/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 224/SL, truy tặng Huân chương Độc lập Hạng Nhất cho Bùi Bằng Đoàn, nguyên Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I.

Nguyên Thảo (st)